SKKN Một số biện pháp chuẩn bị cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi A1, Trường Mầm non Đa Mai sẵn sàng vào lớp một (GV: Lê Thị Tú)

docx 20 Trang Vi Ngọc 3
Bạn đang xem tài liệu "SKKN Một số biện pháp chuẩn bị cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi A1, Trường Mầm non Đa Mai sẵn sàng vào lớp một (GV: Lê Thị Tú)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

Tóm tắt nội dung tài liệu: SKKN Một số biện pháp chuẩn bị cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi A1, Trường Mầm non Đa Mai sẵn sàng vào lớp một (GV: Lê Thị Tú)

SKKN Một số biện pháp chuẩn bị cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi A1, Trường Mầm non Đa Mai sẵn sàng vào lớp một (GV: Lê Thị Tú)
 Một số biện pháp chuẩn bị cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi A1, 
Trường Mầm non Đa Mai sẵn sàng vào lớp một
PHẦN A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Mục tiêu của giáo dục Mầm non là giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, 
thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào lớp 
1, hình thành và phát triển ở trẻ em những chức năng tâm sinh lý, năng lực và phẩm 
chất mang tính nền tảng, những kỹ năng sống cần thiết phù hợp với lứa tuổi, khơi dậy 
và phát triển tối đa những khả năng tiềm ẩn, đặt nền tảng cho việc học ở cấp học tiếp 
theo và cho việc học tập suốt đời.
Ai cũng biết “Lớp 1 là móng, cấp 1 là nền”, bởi vậy, việc chuẩn bị mọi mặt cho một trẻ 
vào lớp một được coi là hết sức quan trọng. Trong những năm gần đây, khi điều kiện 
kinh tế phát triển, sự quan tâm, đầu tư của nhiều bậc phụ huynh chuẩn bị cho trẻ vào 
lớp một lại càng mạnh mẽ hơn, quyết liệt hơn, đó là một biểu hiện thực sự đáng mừng. 
Tuy nhiên, chuẩn bị những gì cho trẻ, đầu tư như thế nào cho đúng cái trẻ cần khi bước 
vào lớp một lại là vấn đề đang rất cần trao đổi, định hướng. Thực tế cho thấy rất nhiều 
vị phụ huynh vì quá lo lắng, quá nóng vội nên đã “sắm sửa” cho trẻ những “hành trang” 
không cần thiết, thậm chí rất sai lệch. Có thể kể ra một số sai lầm các bậc phụ huynh 
thường mắc phải như: Cho trẻ vào lớp một chưa đúng tuổi: Có thể nói việc cho trẻ vào 
lớp một khi chưa tròn 6 tuổi là điều hết sức sai lầm. Bởi lẽ khi chưa tròn 6 tuổi thì chắc 
chắn các yếu tố về thể lực, kĩ năng, tâm lí, ngôn ngữ chưa đáp ứng với các yêu cầu vận 
động, sinh hoạt, học tập, giao tiếp của học sinh lớp một. Trẻ hơn nhau một vài tháng là 
khác hẳn nhau về khả năng tiếp thu, vốn ngôn ngữ và khả năng giao tiếp. Hiện nay nhiều 
phụ huynh vì quá nôn nóng, lo lắng đã bắt ép con học trước cả mấy tháng hè, kể cả 
đánh vần, tập viết, làm toán, kể chuyện theo sách giáo khoa lớp một, thậm chí cả các 
tài liệu tham khảo, nâng cao. Vì thế khi bước vào lớp 1 trẻ sẽ rất nhàm chán, mất hứng 
thú, chủ quan, không tập trung ngay khi các con phải học những bài học đầu tiên mà 
không có gì mới mẻ, thích thú. Như chúng ta đã biết ở lứa tuổi mẫu giáo, vui chơi là hoạt động chủ đạo. Nhưng lên lớp 
một học tập lại là hoạt động chủ đạo. Nếu không chuẩn bị tốt cho trẻ sự hòa nhập và 
tâm thế tốt trẻ sẽ cảm thấy nặng nề, trong nhiều trường hợp trẻ bị rơi vào tình trạng 
khủng hoảng ảnh hưởng đến tâm lý và quá trình học tập của trẻ.
Vì thế, việc quan tâm chăm sóc, cũng như tạo điều kiện để trẻ phát triển một cách toàn 
diện là một vấn đề mà toàn xã hội cần phải quan tâm.Với trẻ mầm non, đặc biệt là trẻ 
tuổi mẫu giáo lớn, chúng ta cần dành sự quan tâm rõ rệt, vì trẻ lứa tuổi này chuẩn bị 
bước vào lớp một - một bước ngoặt vô cùng quan trọng. 
Vậy làm thế nào để trẻ có một kiến thức, một hành trang vững vàng để trẻ mạnh dạn 
tự tin, sẵn sàng bước vào một môi trường mới không hụt hẫng về tâm lý cũng như có 
những tố chất sẵn sàng cho việc học lớp một? Đó là một câu hỏi không chỉ khiến tôi 
luôn trăn trở mà đó là câu hỏi cho cả gia đình, nhà trường và toàn xã hội. Xuất phát từ 
những lý do trên tôi đã lựa chọn: “Một số biện pháp chuẩn bị cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi 
A1, trường Mầm non Đa Mai sẵn sàng vào lớp một”. 
PHẦN B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1. Thực trạng 
Năm học 2020-2021 tôi được phân công dạy lớp mẫu giáo 5-6 tuổi A1. Với số cháu là 
33 trong đó có 19 nam và 14 nữ.
Trong quá trình thực hiện tổ chức biện pháp này tôi đã thấy có một số ưu điểm, tồn tại, 
hạn chế và nguyên nhân sau:
1.1. Ưu điểm: 
Nhà trường có đủ phòng học, khang trang đẹp đẽ. Các phòng học được xây dựng kiên 
cố đủ diện tích cho trẻ hoạt động. Các khu vui chơi ngoài trời luôn đổi mới hấp dẫn và 
đẹp mắt, phù hợp với hoạt động của trẻ. Nhà trường đã đầu tư trang thiết bị đồ dùng 
dạy học, đồ chơi đầy đủ, tài liệu hướng dẫn, giúp giáo viên tham khảo và học tập nâng 
cao biện pháp chuẩn bị tâm thế cho trẻ vào lớp một đảm bảo yêu cầu. Được Ban giám hiệu, tổ trưởng chuyên môn thường xuyên tổ chức bồi dưỡng về chuyên 
môn nghiệp vụ về những kiến thức, kỹ năng cần chuẩn bị tâm thế cho trẻ vào lớp một. 
Thường xuyên tổ chức cho giáo viên đi thăm quan dự giờ các đơn vị trường bạn trong 
và ngoài thành phố để học hỏi và rút kinh nghiệm. 
Luôn được phụ huynh và học sinh tin tưởng và ủng hộ khi thực hiện biện pháp này.
Ưu điểm nhận thấy rõ rệt đó là các cháu thông minh, nhanh nhẹn, thích tìm hiểu khám 
phá, một số cháu có khả năng tư duy nhanh, mạnh dạn tự tin trong giao tiếp rất hứng 
thú tham gia vào các hoạt động giáo viên tổ chức.
1.2 Tồn tại, hạn chế và nguyên nhân:
1.2.1. Giáo viên
Một số phương pháp giảng dạy của giáo viên còn chưa có nhiều sáng tạo đổi mới, chưa 
linh hoạt, đặc biệt là còn chú trọng về giảng dạy các hoạt động học tập có chủ đích, 
chưa có nhiều biện pháp mới nhằm rèn kỹ năng để chuẩn bị tâm thế vào lớp một cho 
trẻ. Nguyên nhân của những hạn chế này là do giáo viên chưa chú ý đến nhiều những 
biện pháp mới, chưa chú ý rèn thêm những kỹ năng học tập và sinh hoạt cần thiết cho 
trẻ để giúp trẻ tự tin bước vào lớp một.
1.2.2. Học sinh
Một số cháu có sức khỏe yếu hơn so với bạn nên việc rèn luyện sự tập trung chú ý thực 
hiện bài tập và rèn luyện về các cơ bền bỉ còn gặp nhiều khó khăn. Có nhiều cháu phát 
âm ngọng, nói lắp nhiều từ lặp lại, rất khó sửa. 
Nguyên nhân của những tồn tại đó chính là các cháu còn hạn chế trong việc ăn uống: 
Nhiều cháu còn ăn kiêng không ăn được các món ăn tổng hợp, do cơ thể hấp thụ dinh 
dưỡng kém dẫn đến cơ thể mệt mỏi, không có sức khỏe để tham gia vào các hoạt động, 
bài tập luyện tập khi giáo viên tổ chức.
Cháu phát âm ngọng và nói lắp nhiều là do khi còn nhỏ đã được cho chơi game, xem tivi 
quá nhiều dẫn tới tình trạng học ngôn ngữ không qua nghe, nói mà qua nhìn và nói, 
khiến cung thính giác không được kích thích và phát triển đúng cách. Những trẻ này ngoài nói ngọng còn dễ bị kích động, cáu giận. Trẻ có xu hướng bắt chước giọng nói của 
người khác, đặc biệt là những người trong gia đình hoặc bạn bè trên lớp. Do vậy nếu 
tiếp xúc với người nói không rõ, phát âm không đúng trẻ dễ mắc lỗi sai tương tự.
1.2.3. Phụ huynh học sinh 
Một số phụ huynh trẻ làm nghề làm bún bánh, buôn bán, bận nhiều công việc nên nhiều 
khi còn chưa có thời gian trò chuyện với trẻ và lắng nghe trẻ nói, chưa quan tâm đến 
việc học của trẻ. Sự phối hợp cùng cô giáo rèn nền nếp cho trẻ ở nhà còn hạn chế. Một 
số gia đình do không nắm vững đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi, nôn nóng về việc học 
hành của con cái nên vội vã cho con học trước chương trình, hay cho đi học viết chữ 
trước. Nguyên nhân đó chính là công việc bận rộn làm ăn buôn bán chưa quan tâm đến 
tâm sinh lý của trẻ và sự thiếu hiểu biết về những kiến thức, kỹ năng cũng như chưa 
thấy được tầm quan trọng của việc chuẩn bị tâm thế cần thiết cho trẻ vào lớp một.
2. Biện pháp 
2.1. Biện pháp 1: Chuẩn bị sẵn sàng về thể lực cho trẻ
2.1.1. Nội dung biện pháp
Cho trẻ thực hiện các bài tập vận động, thể dục sáng, hoạt động học có chủ đích, trò 
chơi vận động ngoài trời động viên và cho trẻ ăn đầy đủ các món ăn đầy đủ dinh dưỡng 
đảm bảo an toàn thực phẩm. Đem lại sức khỏe tốt có đầy đủ tinh thần và sức khỏe sẵn 
sàng bước vào lớp một.
2.1.2. Cách thức, quá trình áp dụng biện pháp
Một trong những yêu cầu đầu tiên đối với trẻ vào lớp một đó là tiêu chuẩn về mặt thể 
lực, sức khoẻ. Trẻ khoẻ mạnh thể lực tốt mới có đủ điều kiện để hoàn thành nhiệm vụ 
học tập ở trường tiểu học. Giáo viên cho trẻ tập bài tập thể dục sáng
Chính vì vậy hàng ngày giáo viên cần thực hiện đúng chế độ sinh hoạt trong một ngày 
từ đón trẻ đến trả trẻ: VD Thường xuyên tổ chức cho trẻ tập thể dục buổi sáng, tập 
đúng, đủ các động tác giúp cơ thể khỏe mạnh và tạo hứng thú trong các giờ học trong 
ngày.
Khi cho trẻ hoạt động ngoài trời: Giáo viên cho trẻ chơi các trò chơi vận động trong sân 
trường như trèo lên xuống thang, tập leo núi, kéo co, bài tập vận động cơ bản thay 
đổi phù hợp chủ đề đang thực hiện. Giáo viên cho trẻ chơi trò chơi vận động leo núi
Động viên khuyến khích trẻ ăn hết xuất, ăn đủ chất dinh dưỡng để cơ thể phát triển 
khỏe mạnh cân đối.
2.1.3. Kết quả áp dụng biện pháp:
 Đầu năm Cuối năm
 Phát triển 
 Số lượng trẻ đạt Tỷ lệ (%) Số lượng trẻ đạt Tỷ lệ (%)
 thể lực
 23/33 69,7%. 33/33 100%.
2.2. Biện pháp 2: Chuẩn bị về mặt phát triển trí tuệ cho trẻ
2.2.1. Nội dung biện pháp Giáo viên cung cấp thêm cho trẻ phát triển về mặt trí tuệ thông qua các hoạt động làm 
quen với toán như: Sự hiểu biết vể bản thân, gia đình, môi trường xung quanh, các biểu 
tượng về thời gian, không gian biết xác định không gian trên, dưới, trước, sau, phải, trái 
và thời gian như: Sáng, trưa, chiều, tối, hôm qua, hôm nay, nhận biết số lượng và chữ 
số từ 1-10...đồng thời có kỹ năng thực hiện hoạt động trí óc như biết so sánh, phân tích, 
tổng hợp là điều kiện cần thiết để trẻ tiếp thu, lĩnh hội chương trình học tập ở trường 
phổ thông.
2.2.2. Cách thức, quá trình áp dụng biện pháp
Trẻ có được một trí tuệ tốt, trẻ thông minh nhanh trí nắm bắt được những kiến thức do 
cô giáo truyền đạt ở lứa tuổi mẫu giáo sẽ rất thuận lợi cho trẻ bước vào lớp một. Chính 
vì vậy chúng ta cần đáp ứng nhu được cầu nhận thức cho trẻ ở lứa tuổi này. Điều này 
được thực hiện thông qua các hoạt động như:
VD: Qua HĐLQVT định hướng không gian và thời gian là một biểu hiện của sự phát triển 
trí tuệ, trẻ biết xác định không gian trên, dưới, trước, sau, phải, trái và thời gian như : 
Sáng, trưa, chiều, tối, hôm qua, hôm nay,...Các tiết học đếm, thêm bớt số lượng trong 
phạm vi 10, tôi cho trẻ đếm những người thân trong gia đình, đếm đồ dùng trong gia 
đình, chia bánh kẹo, hay chơi trò chơi dân gian gần gũi như: Tập tầm vông, ô ăn quan 
Luyện cho trẻ sự nhanh nhẹn linh hoạt chính xác khi tư duy thực hành. Là điều kiện cần 
thiết để trẻ tiếp thu, lĩnh hội chương trình học tập ở trường phổ thông. Trẻ học đếm, tạo nhóm số lượng phạm vi 6
* Dạy trẻ làm quen với tập hợp, số lượng, số thứ tự và đếm
Việc nhận biết số thứ tự trong phạm vi 10 được tiến hành trong các hoạt hàng ngày của 
trẻ như: Xếp hàng, điểm danh, nhận ra vị trí sắp xếp của các con số trong dãy số từ 1-
10. Qua một hoạt động nhận biết số mới trẻ biết xếp nhóm đối tượng thứ nhất từ trái 
sang phải và xếp đối tượng thứ 2 xếp từ trái sang phải, xếp tương ứng 1-1, so sánh 2 
nhóm đối tượng, thêm 1 đối tượng vào nhóm có số lượng ít hơn, đếm nhóm số lượng 
đã biết, sau đó đếm số lượng mới, để biểu thị số lượng của nhóm đó đặt thẻ số tương 
ứng (6 quả dâu tây tương ứng số 6 đặt bên phải). Khi cho trẻ tách, gộp cho trẻ xếp đối 
tượng thẳng hàng từ trái sang phải đếm và đặt số tương ứng bên phải, ví dụ: Tôi hỏi trẻ 
tách 6 quả dâu tây ra 2 phần con có cách tách nào, trẻ đưa ra ý kiến, gộp 2 phần lại có 
số lượng như ban đầu...
2.2.3. Kết quả áp dụng biện pháp: Đầu năm Cuối năm
 Phát triển 
 Số lượng trẻ đạt Tỷ lệ (%) Số lượng trẻ đạt Tỷ lệ (%)
 nhận thức 
 20/33 60,6% 30/33 91%
2.3. Biện pháp 3: Chuẩn bị cho trẻ phát triển về ngôn ngữ
2.3.1. Nội dung biện pháp
 Đối với trẻ 5-6 tuổi chuẩn bị vào lớp một để phát triển tốt về ngôn ngữ và giúp ích cho 
việc học tốt môn Tiếng Việt ngoài việc thực hiện phát triển ngôn ngữ qua các giờ học 
như: Làm quen văn học, khám phá khoa học, làm quen với toán, trong các giờ chơi và 
mọi lúc mọi nơi ở lớp một thì chúng ta cần tổ chức các hoạt động nghe, nói, luyện phát 
âm. 
2.3.2. Cách thức, quá trình áp dụng biện pháp
Do vốn từ của trẻ chưa phong phú, trẻ chưa có khả năng hiểu nghĩa của từ, khả năng tư 
duy còn hạn chế, trẻ còn phát âm ngọng rất nhiều Vì vậy một trong những hướng thiết 
thực cần chuẩn bị cho trẻ mẫu giáo lớn vào lớp một là rèn luyện cho trẻ kỹ năng đặt câu 
hỏi và trả lời câu hỏi rõ ràng, mạch lạc. Tôi có thể rèn các kỹ năng trên thông qua giờ 
học: Làm quen văn học, khám phá khoa học, làm quen với toán, trong các giờ chơi và 
mọi lúc mọi nơi để phát triển ngôn ngữ cho trẻ. 
Đối với trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi để giúp ích cho việc học tốt môn Tiếng Việt ở lớp một tôi 
đã tổ chức hoạt động nghe, nói, luyện như sau: 
+ Cho trẻ xem hình ảnh, kể lại truyện theo sự ghi nhớ và tưởng tượng của trẻ, đàm 
thoại, đặt câu hỏi về nội dung, suy luận phán đoán thông qua câu đố, trò chơi và thông 
qua câu trả lời của trẻ.
+ Dạy trẻ viết tên mình một cách tự nhiên không gò bó, điểm danh bằng bảng tên.
Cho trẻ làm quen chữ cái thông qua các trò chơi: + Tìm chữ cái đã học qua các các bài thơ.
+ Luyện phát âm thông qua bài thơ, đồng dao, câu chuyện..
* Ví dụ: Đề tài làm quen với chữ “l, m, n”, sau khi cô cho trẻ làm quen với chữ cho phát 
âm lại. Với nhóm chữ này có nhiều cháu đọc còn ngọng giữa “l” với “n”. Cô mời cháu 
đứng dậy phát âm lại và cô hướng dẫn lại cách phát âm chữ “l” khi đọc thì đầu lưỡi phải 
chạm vào lợi hàm trên hất xuống, còn âm “n” thì làm ngược lại. Và cho trẻ luyện âm 
“nờ” bằng cách chơi trò chơi “Nu na nu nống”. Cùng với các động tác tay, chân trẻ kết 
hợp được đọc bài đồng dao có nhịp điệu âm “nờ” mà cô định luyện cho trẻ: “Con chim 
hay hót - Nó hót cành đa - Nó sa cành trúcn - Nó rúc cành tre - Nó hót le le..”
+ Trò chơi sao chép chữ cái. + Trò chơi xếp chữa cái bằng hột hạt, hay nặn chữ cái.
+ Dạy trẻ viết tên mình một cách tự nhiên không gò bó, điểm danh bằng bảng tên.
Cho trẻ làm quen với các kiểu chữ in thường, viết thường, in hoa viết hoa để làm tiền 
đề cho việc bước vào lớp một được vững vàng. Giáo viên cho trẻ đọc và phát âm chữ cái, từ, trên các mảng tường
 Đầu năm Cuối năm
 Phát triển 
 Số lượng trẻ đạt Tỷ lệ (%) Số lượng trẻ đạt Tỷ lệ (%)
 ngôn ngữ 
 21/33 63,6% 31/33 94%
2.4. Biện pháp 4: Chuẩn bị một số kỹ năng cần thiết trong học tập, sinh hoạt
2.4.1. Nội dung biện pháp
Hướng dẫn trẻ và rèn luyện những kỹ năng cần thiết trong học tập, sinh hoạt hàng ngày 
giúp trẻ tự tin khi tham gia học tập tại môi trường mới và có nhiều kinh nghiệm trong 
cuộc sống.
2.4.2. Cách thức, quá trình áp dụng biện pháp
Ngoài việc chuẩn bị thể lực, trí tuệ, ngôn ngữ và tình cảm xã hội trẻ được Giáo viên rèn 
thêm một số kỹ năng cần thiết cho hoạt động học tập như: Cách cầm bút, cách đặt vở 
trong giờ học vẽ, mở sách, vở trong các lần học tập tô, làm quen với toán, tạo hình , tư thế ngồi đúng trong khi ngồi học, chơi. Dạy trẻ kỹ năng giơ tay xin phép thầy cô khi phát 
biểu hoặc xin phép ra ngoài, kỹ năng tự giới thiệu về bản thân, kỹ năng xếp hàng khi vào 
lớp, Biết lắng nghe giữ trật tự trong lớp, 
Dạy trẻ kỹ năng giơ tay
Dạy trẻ tư thế ngồi học,cách cầm bút VD: Hoạt động góc, trò chơi đóng vai, trò chơi vận động Giáo viên đã cho trẻ được 
tham gia thường xuyên hoạt động theo nhóm, sắp xếp bàn ghế. Trẻ được rèn kỹ năng 
làm việc theo nhóm qua rất nhiều hoạt động học.Qua đó trẻ được rèn luyện tự giác, ý 
thức tổ chức kỷ luật, tính tự lập, ý thức đoàn kết, nhường nhịn giúp đỡ bạn.
Rèn cho trẻ những kỹ năng, thói quen cơ bản, giúp trẻ tự tin để bước vào lớp một như: 
Vệ sinh cá nhân, kỹ năng tự phục vụ tự chải tóc, mặc quần áo, đi giày, đeo balo đúng, 
để đi học đúng giờ Rèn thói quen sinh rửa tay thường xuyên, rửa tay bằng xà phòng 
để phòng ngừa dịch bệnh. 
2.4.3. Kết quả áp dụng biện pháp
 Đầu năm Cuối năm
 Trẻ có một số kỹ 
 năng cần thiết Số lượng trẻ 
 Tỷ lệ (%) Số lượng trẻ đạt Tỷ lệ (%)
 trong học tập,sinh đạt
 hoạt.
 23/33 69,7%. 33/33 100%.
2.5. Biện pháp5: Cho trẻ làm quen với trường tiểu học
2.5.1. Nội dung biện pháp
Để chuẩn bị tâm lý sẵn sàng bước vào lớp 1 cho trẻ thì việc cho trẻ làm quen với Trường 
tiểu học là việc làm rất quan trọng không thể thiếu. Nơi đây sẽ là nơi trẻ học tập khi 
bước vào lớp 1.
2.5.2. Cách thức, quá trình áp dụng biện pháp
VD: Thông qua chủ đề “Trường tiểu học” cô cùng trò chuyện với trẻ về tên trường, thầy 
cô giáo và các anh chị học sinh đeo khăn quàng đỏ, Cho trẻ làm quen với đồ dùng của 
học sinh trường tiểu học như: Sách giáo khoa, vở viết, cặp sách, bút Cho trẻ xem các 
hoạt động ở tiểu học như: Chào cờ đầu tuần, sinh hoạt lớp, học các môn học qua một số video trên màn hình. Qua đó cung cấp cho trẻ những hiểu biết ban đầu về nơi mà 
trẻ sẽ học tập sắp tới.
Cho trẻ đi thăm quan trường tiểu học bước vào cổng trường được các anh chị, thầy cô 
đón chào. Tạo tâm lý phấn khởi hứng thú và mong muốn được trở thành người học sinh 
tại nơi đây. Giáo viên đưa trẻ đi từng lớp học và cho trẻ được ngồi vào bàn học để cảm 
nhận là người học sinh tương lai tại ngôi trường tiểu học. Cô giáo giới thiệu về đồ dùng 
sách vở của các anh chị lớp một. Cách ngồi học ngay ngắn không mất trật tự, kỹ năng 
giơ tay phát biểu và trả lời câu hỏi, cho trẻ giở sách, xem sách, đồ dùng học tập, dạy trẻ 
cách sắp xếp đồ dùng học tập.
Cho trẻ được giao lưu với thầy cô, các anh chị lớp một và quan sát một số hoạt động 
học của các anh chị tại trường là điều hết sức cần thiết và tạo niềm tin mạnh mẽ, ý thức 
phấn đấu cũng như tinh thần thoải mái đón chờ ngôi trường mới trong năm học sắp tới 
của trẻ.
Trẻ tham gia hoạt động học cùng các anh chị lớp 1 ở trường Tiểu học
2.5.3. Kết quả áp dụng biện pháp 
 Trẻ hứng thú đi học, Đầu năm Cuối năm
 mong muốn trở 
 Số lượng trẻ 
 thành người học Tỷ lệ (%) Số lượng trẻ đạt Tỷ lệ (%)
 đạt
 sinh tại trường tiểu 
 học. 22/33 66,7% 33/33 100%.
2.6. Biện pháp 6: Phối kết hợp với phụ huynh trong việc chuẩn bị cho trẻ vào lớp một
2.6.1. Nội dung biện pháp
Tuyên truyền và phối hợp giữa gia đình với nhà trường là một việc làm hết sức cần thiết 
thông qua nhiều hình thức như: Họp phụ huynh học sinh, liên lạc qua zalo nhóm lớp, 
góc tuyên truyền phụ huynh, trao đổi tình hình sức khỏe và học tập của trẻ hàng ngày 
qua giờ đón trả trẻ Giúp phụ huynh thấy được tầm quan trọng của việc chuẩn bị tâm 
thế cho trẻ vào lớp một.
2.6.2. Cách thức, quá trình áp dụng biện pháp
 Tôi tổ chức họp phụ huynh theo quí, 3 lần/năm: Vào đầu năm học, hết học kỳ 1 và 
cuối năm học. Vào đầu năm học họp phụ huynh mục đích để phụ huynh biết được kết 
quả khảo khát đầu năm của trẻ, kết quả chiều cao cân nặng của mỗi trẻ để phụ huynh 
có hướng kết hợp cùng nhà trường giáo dục trẻ. Thông báo với phụ huynh về các chủ 
đề thực hiện trong năm, 100 chỉ số trong bộ chuẩn để phụ huynh thấy được tầm quan trọng của việc đến trường. 
Họp phụ huynh học sinh
Tổ chức cân đo cho trẻ 3 lần/năm theo dõi kết quả trên biểu đồ và thông báo kịp thời 
với nhà trường, phụ huynh những cháu suy dinh dưỡng, thấp còi để nhà trường, phụ 
huynh có hướng bồi dưỡng thêm hoặc điều chỉnh khẩu phần ăn cho trẻ lúc ở nhà. 
Tuyên truyền việc cần thiết để chuẩn bị tâm thế cho trẻ vào lớp một, phụ huynh dạy 
thêm cho con nhiều kỹ năng trong học tập, sinh hoạt hàng ngày. Không ép con học trước 
kiến thức lớp 1 quá sớm ảnh hưởng đến tâm lý và sự hứng thú của trẻ.
Hàng ngày, đến giờ trả trẻ tôi luôn trao đổi với phụ huynh về tình hình của cháu trong 
ngày: về sức khỏe, thói quen, ăn uống, để phụ huynh cùng với cô giáo kịp thời có hướng 
giải quyết tốt. 
Ở trước lớp tôi có góc phụ huynh, nhiều nội dung rất bổ ích: tuyên truyền kiến thức về 
một số bệnh đang gặp, thông báo với phụ huynh những điều cần thiết, thời gian biểu của tuần đang thực hiện. Buổi sáng phụ huynh đưa trẻ đến, buổi chiều đón trẻ phụ 
huynh thường hay xem, qua đó phụ huynh có thêm một số kiến thức, biết được tuần 
này, hôm nay con mình đang học gì để kết hợp cùng giáo viên giáo dục trẻ tốt hơn. 
2.6.3. Kết quả áp dụng biện pháp
 Phụ huynh thấy Đầu năm Cuối năm
 được tầm quan 
 Số lượng trẻ 
 trọng của việc Tỷ lệ (%) Số lượng trẻ đạt Tỷ lệ (%)
 đạt
 chuẩn bị tâm 
 thế cho trẻ vào lớp 
 24/33 72,7% 33/33 100%.
 một.
PHẦN C. MINH CHỨNG VỀ HIỆU QUẢ CỦA BIỆN PHÁP
1. Các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn làm cơ sở cho việc lựa chọn biện pháp
- Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên nâng cao năng lực chuyên môn nghiệp vụ và đạo đức 
nghề nghiệp cán bộ quản lý và giáo viên mầm non năm học 2020-2021.
- Chương trình giáo dục mầm non của Bộ GD&ĐT.
- Kế hoạch giáo dục trẻ năm học 2020-2021.
- Kế hoạch cá nhân mức trẻ đạt trong từng lĩnh vực phát triển.
- Hướng dẫn và rèn kỹ năng sống cho trẻ mầm non - Nhà xuất bản Đại Học Quốc Gia Hà 
Nội năm 2012
- Tài liệu Chuẩn bị cho trẻ 5 tuổi vào trường phổ thông của nhóm tác giả Nguyễn Thị 
Ánh Tuyết - Lương Kim Nga - Trương Kim Oanh.
2. Kết quả đạt được
* Đối với giáo viên: Phương pháp giảng dạy của giáo viên có nhiều sáng tạo đổi mới, linh 
hoạt hơn, có nhiều biện pháp mới nhằm rèn kỹ năng để chuẩn bị cho trẻ vào lớp một. * Đối với học sinh: Trẻ khỏe mạnh hơn, ăn được những món ăn tổng hợp theo thực đơn 
của nhà trường, theo tuần, theo mùa. Có tinh thần vui vẻ thi đua trong giờ ăn, tự tin 
tham gia vào những bài tập, hoạt động học có chủ đích tốt hơn, bền bỉ chú ý hơn chú ý. 
Những trẻ thiếu tập trung hay đùa nghịch, khi khảo sát ở đầu năm đến cuối năm đã tiến 
bộ rất nhiều cụ thể đó là cháu đã chú ý nghe cô giảng bài, không còn nói chuyện trong 
giờ học, không nghịch đồ dùng học tập, không hay nói leo Có tinh thần thi đua trong 
học tập.
Vì vậy khi tạo được sự hứng thú tham gia và tập trung vào những hoạt động học nên 
khi về nhà trẻ không còn đòi xem tivi quá nhiều thay vào đó là trẻ thích vẽ, thích viết 
bài để gửi cho cô qua zalo Thích được giao lưu nói chuyện với mọi người xung quanh 
hơn.
Trẻ phát âm ngọng, nói lắp nhiều từ lặp lại cũng đã phát âm chính xác hơn, trẻ chú ý nói 
chậm hơn, đúng hơn mỗi khi nói những câu từ đó. Trẻ nhận ra mình nói sai hay đúng.
* Đối với phụ huynh:
Phụ huynh đã giành nhiều thời gian trò chuyện với trẻ và lắng nghe trẻ nói. Không còn 
vội vã cho con học trước chương trình, hay cho đi học viết chữ trước thay vào đó là 
quan tâm đến tâm sinh lý, kiến thức, kỹ năng cần thiết để chuẩn bị cho trẻ sẵn sàng vào 
lớp một của trẻ. 
Bảng số liệu so sánh kết quả trước và sau khi áp dụng biện pháp:
 Đầu năm học Cuối năm học
 Nội dung
 Số lượng Số lượng trẻ 
 Tỷ lệ (%) Tỷ lệ (%)
 trẻ đạt đạt
 Phát triển thể lực 23/33 69,7% 33/33 100%
 Phát triển nhận thức 20/33 60,6% 30/33 91%
 Phát triển ngôn ngữ 21/33 63,6% 31/33 94% Trẻ có một số kỹ năng cần thiết 
 23/33 69,7% 33/33 100%.
trong học tập,sinh hoạt.
Trẻ hứng thú đi học, mong muốn trở 
thành người học sinh tại trường tiểu 22/33 66,7% 33/33 100%.
học.
Phụ huynh thấy được tầm quan trọng 
của việc chuẩn bị tâm thế cho trẻ vào 24/33 72,7% 33/33 100%.
lớp một.
 GIÁO VIÊN
 Lê Thị Tú

File đính kèm:

  • docxskkn_mot_so_bien_phap_chuan_bi_cho_tre_mau_giao_5_6_tuoi_a1.docx