SKKN Một số biện pháp dạy trẻ kỹ năng phòng tránh bị xâm hại tại lớp mẫu giáo 5-6 tuổi A1 trường mầm non Yên Lư (GV: Nguyễn Thị Hợi - Trường MN Yên Lư)

doc 37 Trang Vi Ngọc 16
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "SKKN Một số biện pháp dạy trẻ kỹ năng phòng tránh bị xâm hại tại lớp mẫu giáo 5-6 tuổi A1 trường mầm non Yên Lư (GV: Nguyễn Thị Hợi - Trường MN Yên Lư)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

Tóm tắt nội dung tài liệu: SKKN Một số biện pháp dạy trẻ kỹ năng phòng tránh bị xâm hại tại lớp mẫu giáo 5-6 tuổi A1 trường mầm non Yên Lư (GV: Nguyễn Thị Hợi - Trường MN Yên Lư)

SKKN Một số biện pháp dạy trẻ kỹ năng phòng tránh bị xâm hại tại lớp mẫu giáo 5-6 tuổi A1 trường mầm non Yên Lư (GV: Nguyễn Thị Hợi - Trường MN Yên Lư)
 1: Phần mở đầu
 1.1. Lý do chọn sáng kiến
 Như chúng ta đã biết xã hội hiện đại mang đến cho cuộc sống con người 
nhiều tiện ích, sự thoải mái nhưng cũng tiềm ẩn nhiều mối nguy hiểm, đặc biệt 
là đối với con trẻ. Điều này đòi hỏi mỗi trẻ đều phải có những kỹ năng để xử lý 
cũng như bảo vệ chính bản thân mình. Ngay khi trẻ sinh ra, bố mẹ đã cố gắng 
tạo ra môi trường an toàn cho trẻ nhưng vì bộn bề cuộc sống mà các bậc cha mẹ, 
gia đình, người chăm sóc trẻ thiếu hiểu biết về đặc điểm tâm sinh lý trẻ em, 
thiếu nhận thức về nguy cơ, thiếu sự quan tâm chia sẻ vấn đề giới tính với trẻ 
em. Từ đó, dẫn tới các em thiếu hiểu biết về đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi, về 
kiến thức, kỹ năng phòng tránh bị xâm hại.
 Bản thân tôi là một người làm công tác giáo dục hơn nữa là một giáo viên 
trực tiếp đứng lớp hàng ngày chăm sóc dạy dỗ các con, nhìn các con với những 
nét thơ ngây hồn nhiên đến trường để được vui chơi, được lĩnh hội kiến thức 
hành trang bước vào đời cùng bạn bè, thầy cô giáo vậy mà các em lại gặp phải 
những trường hợp đau lòng khi bị xâm hại làm tổn thương đến tâm sinh lí của 
các em rất có thể các em sẽ trở thành những đứa trẻ khác hoàn toàn : thụ động, 
đờ đẫn, lo sợ, tự kỉ,...Đó là điều mà trong chúng ta không mong muốn.
 Trẻ em là mầm non của đất nước, là niềm tự hào và niềm hy vọng của gia 
đình và xã hội. Cha mẹ, thầy cô và cả xã hội đều dành những gì tốt đẹp cho 
chúng với niềm mong mỏi là các em sẽ sớm trưởng thành, trở thành những 
người hữu ích cho xã hội. Những người lớn chúng ta đang làm và cố gắng làm 
để điều đó sớm thành hiện thực. Tiếc thay, môi trường sống của các em không 
chỉ có sự yêu thương, đùm bọc, chở che mà còn có sự lợi dụng, xâm hại gây ảnh 
hưởng đến quá trình phát triển của các em. Do vậy, trẻ em phải luôn luôn được 
sự che chở bảo vệ của người lớn mọi lúc, mọi nơi. Chúng ta cũng cần phải đặt ra 
câu hỏi phải làm gì để bảo vệ các em và phải làm gì để các em biết tự bảo vệ 
mình?
 Nhận thức được tầm quan trọng của việc dạy trẻ phòng chống xâm hại; dựa 
vào đặc điểm tâm sinh lí của trẻ mầm non và qua thực tế của lớp; tôi đã mạnh 
dạn suy nghĩ, lên kế hoạch cung cấp những hiểu biết cơ bản và kỹ năng cần thiết 
để trẻ tự bảo vệ bản thân thông qua các hoạt động. Đó cũng là lý do tôi chọn đề 
tài: “Một số biện pháp dạy trẻ kỹ năng phòng tránh bị xâm hại tại lớp mẫu 
giáo 5- 6 tuổi A1 trường mầm non Yên Lư”để góp phần đào tạo ra một thế hệ 
thực sự năng động, tự tin và giàu bản lĩnh ứng phó với bất cứ tình huống nào 
trong cuộc sống .
 1.2. Điểm mới trong sáng kiến
 Sáng kiến kinh nghiệm “Một số biện pháp dạy trẻ kỹ năng phòng tránh bị 
xâm hại tại lớp mẫu giáo 5- 6 tuổi A1 trường mầm non Yên Lư” góp phần 
giúp trẻ bước đầu biết được những kiến thức về giới tính, được giáo dục về giới 
tính từ sớm và đó chính là cách phòng tránh cho trẻ không bị xâm hại, ngay cả 
từ khi trẻ chưa có khái niệm về xâm hại, về giáo dục giới tính. Trẻ được giáo 
 1 dục thông qua những hoạt động ở trường lớp với nhiều hình thức khác nhau, 
giúp trẻ hứng thú khi tiếp thu các kiến thức đã được học.
 Đây là đề tài đã có rất nhiều đồng chí nghiên cứu, xong điểm mới mà tôi 
đưa ra đó là: Trang bị cho trẻ kĩ năng phòng tránh bị xâm hại bản thân cũng 
chính là trang bị cho trẻ hành trang để trẻ có thể sống an toàn, lành mạnh.
 Chính vì vậy để đạt hiệu quả cao trong việc giáo dục kĩ năng cho trẻ, tôi đã 
mạnh dạn tổ chức hoạt động giáo dục kĩ năng tự bảo vệ bản thân phòng tránh bị 
xâm hại cho trẻ dưới hình thức như một tiết học. Thông qua các tiết học giáo 
dục kĩ năng sống trẻ được làm việc nhóm, nói lên hiểu biết của bản thân, trẻ sẽ 
nhận thức, một cách rõ ràng các kĩ năng cần có để bảo vệ bản thân. Bên cạnh đó 
việc sử dụng các tình huống giả định được tôi đặc biệt chú trọng điều này khác 
hẳn với những năm học trước, trong quá trình dạy trẻ giáo viên chủ yếu sử dụng 
tranh ảnh, video minh họa để lồng ghép giáo dục trẻ, điều này đã hạn chế việc 
tạo cơ hội cho trẻ được thể hiện cách xử lý của mình trước những tình huống có 
thể xảy ra trong cuộc sống hàng ngày của trẻ, việc thường xuyên đưa ra các tình 
huống cụ thể đời thật với trẻ đã giúp mang lại hiệu quả cao trong việc giáo dục 
kĩ năng tự bảo vệ bản thân phòng tránh bị xâm hại cho trẻ.
 Việc giáo dục các kĩ năng cơ bản giúp trẻ biết bảo vệ bản thân mình 
phòng tránh bị xâm hại là điều mà các giáo viên luôn đặc biệt quan tâm, tuy 
nhiên việc giúp trẻ tiếp cận với kĩ năng tránh xâm hại cơ thể( xâm hại trẻ em) 
thực tế trong giảng dạy còn rất ít, hầu như trẻ chỉ được học về sự khác biệt về 
đặc điểm bên ngoài, sở thích, trang phục của bạn gái- bạn trai. Rất ít giáo viên 
mạnh dạn đưa nội dung này vào giáo dục cho trẻ hoặc có đưa vào thì cũng dừng 
lại ở mức giúp các cháu tiếp cận vấn đề chứ chưa đi sâu vào giáo dục giới tính 
cũng như những kĩ năng phòng tránh xâm hại. Chính vì vậy để mang lại hiệu 
quả trong việc giáo dục kĩ năng phòng tránh xâm hại cơ thể tôi đã đưa nội dung 
này vào để giáo dục trẻ bằng nhiều hình thức khác nhau. Tóm lại việc đưa ra các 
biện pháp dạy trẻ các kỹ năng phòng tránh bị xâm hại mới dựa trên kết quả của 
cách làm cũ đã mang lại sự chuyển biết khá rõ rệt trong giáo dục kĩ năng tự bảo 
vệ bản thân cho trẻ. 
 2. Phần nội dung
 2.1. Thực trạng của nội dung cần nghiên cứu
 Năm học 2020 - 2021 tôi được nhà trường phân công dạy lớp mẫu giáo 5 - 
6 tuổi A1 gồm 37 cháu, trong đó số cháu nam 15 cháu, nữ 22 cháu. Điều kiện về 
cơ sở vật chất, trang thiết bị tương đối đầy đủ. Ban giám hiệu thường xuyên dự 
giờ chỉ đạo giúp đỡ chuyên môn cho giáo viên, sự quan tâm và giúp đỡ tận tình 
của các bậc phụ huynh, có sự quan tâm sâu sắc của Phòng Giáo dục - Đào tạo 
đặc biệt là cấp học Mầm non. Vì vậy, bản thân tôi luôn luôn trau dồi học hỏi 
đồng nghiệp để nâng cao tay nghề làm thế nào tìm ra giải pháp giúp trẻ 5- 6 tuổi 
trong trường mầm non phòng tránh bị xâm hại. Trong thời gian nghiên cứu đề 
tài bản thân tôi nhận thấy trong lớp mình đang đảm nhận còn gặp một số thuận 
lợi và khó khăn sau:
 2.1.1 Thuận lợi
 2 Được sự quan tâm chỉ đạo sát sao kịp thời của lãnh đạo UBND xã Yên Lư, 
Phòng GD & ĐT huyện Yên Dũng, sự quan tâm phối kết hợp của chính quyền 
địa phương, trường mầm non có cơ sở vật chất khang trang và đặc biệt là có đầy 
đủ các phòng chức năng, đó cũng là một niềm vinh dự cho nhà trường và là 
niềm khích lệ động viên tập thể cán bộ giáo viên nhân viên nhà trường luôn cố 
gắng phấn đấu hết mình để nhiều năm liền trường đạt tập thể lao động tiên tiến 
cấp huyện.
 Được sự quan tâm của ban giám hiệu luôn chỉ đạo sát sao với công tác 
chuyên môn. Luôn có sự đầu tư và bồi dưỡng cho chuyên môn. Thường xuyên 
phát động phong trào thi đua khích lệ giáo viên trong trường năng động, sáng 
tạo tăng cường đưa kỹ năng sống, kỹ năng tự bảo vệ bản thân vào các buổi hoạt 
động trong ngày.
 Ban giám hiệu nhà trường quan tâm, tạo điều kiện cho giáo viên được tham 
gia các lớp học bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ sư phạm do phòng giáo dục 
và trường tổ chức.
 Các giáo viên ở lớp đều là những giáo viên trẻ, nhiệt tình, năng động, sáng 
tạo. Với tình yêu nghề mến trẻ, hăng say trong công việc các cô luôn nghiên cứu 
tìm tòi phương pháp giáo dục để trẻ lĩnh hội được kiến thức một cách tốt nhất, 
hiệu quả nhất thông qua hoạt động dạy trẻ một số kỹ năng phòng chống bị xâm 
hại cho trẻ.
 Giáo viên có ý thức trách nhiệm cao trong công việc, phát huy tính tích 
cực chủ động của trẻ. 
 Có sự quan tâm ủng hộ của đa số các bậc phụ huynh học sinh trong các 
hoạt động dạy và học của cô và trẻ.Trẻ ham học hỏi, nhanh nhẹn, hứng thú 
tham gia vào các trò chơi, các mô hình trải nghiệm cùng cô và các bạn. 
 2.1.2. Khó khăn
 Mặc dù có những thuận lợi cơ bản, tuy nhiên trong quá trình thực hiện của 
lớp vẫn có những khó khăn: 
 Đa số là giáo viên trẻ mới vào trường, vốn kinh nghiệm chưa nhiều, kỹ năng 
còn hạn chế.
 Đa số bố mẹ trẻ đều làm nông nghiệp và công nhân nên việc kết hợp giáo 
dục cho trẻ trước các nguy cơ bị xậm hại còn hạn chế về nhiều mặt và gặp nhiều 
khó khăn. trẻ ít có điều kiện tham gia các hoạt động và được bố mẹ hướng dẫn 
cùng tham gia. 
 Đa số trẻ chưa biết về giới tính, chưa biết ai là người được phép chạm và 
không được chạm vào mình.
 Trẻ chưa được bố mẹ, cô giáo dạy về giới tính, chưa hiểu việc bị xâm hại là 
gì.
 Nhiều gia đình luôn bao bọc, nuông chiều, cho con tiếp xúc với mạng 
internet, tiếp xúc với người lạ nơi công cộng, chưa quan tâm dạy con về giới 
tính và những kỹ năng phòng chống, tự bảo vệ bản thân nên kinh nghiệm ứng 
phó còn hạn chế. Khó khăn cho trẻ khi có tình huống bất ngờ xảy ra.
 3 Nhiều phụ huynh còn chưa quan tâm đến việc dạy về giới tính và kỹ năng 
phòng chống xâm hại cho trẻ ở lứa tuổi mầm non, cho rằng lứa tuổi này còn quá 
nhỏ để học.
 Một số phụ huynh khác thì quá lạm dụng mạng internet, cho con chơi tự do 
ở những nơi công cộng mà không dạy con cách tiếp xúc và đề phòng người lạ.
 2.1.3. Khảo sát thực tế
 Từ thực trạng trên của trường mầm non Yên Lư, bản thân tôi nhận thấy rằng 
mặc dù công tác phòng tránh cho trẻ không bị xâm hại cũng đã được thực hiện 
xong còn mang tính hình thức, chưa mang lại hiệu quả cao, cụ thể qua khảo sát 
như sau:
 * Bảng khảo sát thực trạng lớp 5 - 6 tuổi A1 trước khi áp dụng sáng 
kiến
 Đạt Chưa đạt
 S
 Tổng 
 T Tiêu chí đánh giá
 số trẻ Số Tỉ lệ Số Tỉ lệ 
 T trẻ % trẻ %
 1 Trẻ biết về giới tính và các 37 14 38 23 62
 vùng nhạy cảm
 Ai được phép chạm vào vùng 
 2 37 15 40 22 60
 riêng tư
 Biết 1-2 cách để phòng tránh 65
 3 37 13 35 24
 xâm hại.
 4 Biết đến qui tắc 5 ngón tay 37 12 32 25 68
 5 Biết tránh xa người lạ mặt 37 15 40 22 60
 Phụ huynh đã quan tâm giáo 
 6 37 18 48 19 52
 dục giới tính cho trẻ
 Từ những vấn đề trên tôi đã mạnh dạn tìm ra những biện pháp tốt nhất dạy trẻ 
kỹ năng phòng tránh bị xâm hại trong trường mầm non
 2.2. Kết quả, giải pháp
 * Các giải pháp
 Từ thực trạng trên của trường mầm non Yên Lư, bản thân tôi nhận 
thấy rằng mặc dù công tác phòng tránh cho trẻ không bị xâm hại cũng đã được 
thực hiện xong còn mang tính hình thức, chưa mang lại hiệu quả cao Trong quá 
trình nghiên cứu đề tài và qua quá trình giảng dạy tại trường tôi đã thực hiện một 
số giải pháp sau:
 *Giải pháp 1: Cung cấp những hiểu biết cơ bản và kỹ năng cần thiết 
để trẻ tự bảo vệ
 1.1.1. Dạy trẻ về giới tính và các vùng nhạy cảm:
 4 Kỹ năng đầu tiên cần cung câp cho trẻ là kiến thức về giới tính và các vùng 
nhạy cảm trên cơ thể. Nhiều trường hơp các bé bị xâm hại mà không thể tự nhận 
biết được sự nghiêm trọng của vấn đề do còn quá non nớt và thiếu hiểu biết. Cha 
mẹ cần dạy cho trẻ nhận biết rằng các vùng nhạy cảm trên cơ thể chỉ là của riêng 
bé và dạy cho trẻ biết cách bảo vệ trước sự động chạm của người khác nếu trẻ 
không thích.
 1.1.2 Không cho người khác chạm vào vùng nhạy cảm:
 Các bậc phụ huynh nên dạy cho trẻ cách bảo vệ cơ thể không cho bất kỳ ai 
chạm vào vùng nhạy cảm hay có những hành động ôm ấp, vuốt ve nếu trẻ không 
thích. Vùng nhạy cảm là của riêng bé kể cả bố mẹ cũng không được chạm vào 
nếu không có sự đồng ý của trẻ. Hãy dạy cho bé cách từ chối và phản ứng lại 
nếu có người cố tình động chạm vào cơ thể khiến trẻ thấy khó chịu. 
Hình ảnh: Kỹ năng đầu tiên là dạy trẻ về kiến thức giới tính và vùng nhạy cảm 
trên cơ thể
 1.1.3. Không chạm vào vùng nhạy cảm của người khác
 Giống như việc dạy trẻ tự bảo vệ cơ thể của mình thì các bậc phụ huynh 
cũng nên dạy trẻ chú ý không nên chạm vào vùng nhạy cảm của người khác nhất 
là người khác giới. Đặc biệt không nên tò mò về cơ thể người khác để tránh bị 
lợi dụng hay dụ dỗ hay vô tình kích thích thú tính của những kẻ xấu
 1.1.4. Dạy trẻ tránh xa người lạ mặt
 Dạy cho trẻ cách tránh xa người lạ mặt, không bắt chuyện hay làm quen với 
bất kỳ ai mà bé gặp trên đường nếu không có sự đồng ý của cha ,mẹ. Đồng thời 
cha mẹ nên cảnh báo cho trẻ những nguy hiểm có thể gặp phải khi bé đi chơi 
một mình với người lạ hoặc đi đến những nơi vắng vẻ, những nơi tối tăm kín 
đáo.
 5 Hình ảnh: Dạy trẻ tránh xa và không đi theo người lạ mặt
 1.1.5 Không cho người lạ mặt vào nhà
 Khi trẻ ở nhà một mình cần dạy trẻ lưu ý an toàn và tuyệt đối không được 
cho bất kỳ người lạ mặt vào nhà. Cũng nên chú ý không cho trẻ đi chơi một 
mình dù chỉ là sang nhà hàng xóm hay đến nhà người quen mà không có sự theo 
dõi của bố mẹ.
 1.1.6. Dạy trẻ cách tự bảo vệ hay chạy thật nhanh hoặc nhờ sự giúp đỡ của 
người khác
 Để đề phòng trong trường hợp không may trẻ bị tấn công cha mẹ hoặc thầy 
cô nên đưa ra các giả thiết và hướng dẫn trẻ cách tự bảo vệ hay chạy chốn. Bạn 
có thể dạy trẻ tìm cơ hội lúc kẻ xấu sơ hở để chạy thật nhanh hoặc la hét thật lớn 
cầu cứu người xung quanh. Nên chú ý rằng do có sự chênh lệch về sức khỏe nên 
mọi sự phản kháng của trẻ gần như không đem lại kết quả, thậm chí còn khiến 
kẻ xấu dùng những biện pháp bạo lực hơn. Vì vậy chỉ có thể dùng sự thông 
minh và những kỹ năng mới có thể giúp trẻ thoát thân an toàn. Ngoài ra bạn 
cũng nên dạy trẻ ghi nhớ số diện thoại của cha hoặc mẹ hoặc số điện thoại khẩn 
cấp để trẻ có thể sử dụng trong trường hợp khẩn cấp. 
 6 Ảnh:Trẻ ghi nhớ và sử dụng số điện thoại của cha( mẹ) trong trường hợp khẩn 
 cấp
 1.1.7. Báo ngay cho cha hoặc mẹ khi trẻ bị đe dọa hoặc không thích bất kỳ 
 người nào
 Cần dạy cho trẻ biết rằng các con không cần sợ hãi hay lo lắng khi có bất kỳ 
 kẻ nào đe dọa hoặc làm tổn thương đến trẻ. Trong trường hợp có kẻ xấu đe dọa 
 trẻ phải giữ bí mật thì trẻ nên thông báo cho cha hoặc mẹ và người thân thiết. 
 Ngoài ra khi các bé không thích tiếp xúc với người khác bé cũng nên chia sẻ cho 
 cha mẹ biết và tránh xa những người mà bé không thích hay có những hành vi 
 đụng chạm. 
 1.1.8. Dạy trẻ kỹ năng quy tắc bàn tay giao tiếp
 Cha mẹ cần dạy bé biết quy tắc bàn tay giao tiếp (mỗi ngón tay là 1 quy tắc) 
sau đây: Qui tắc được viết theo lời bài hát “Năm ngón tay xinh” rất đơn giản và 
dễ nhớ.
 Ngón cái - gần mình nhất - tượng trưng cho những người thân ruột thịt trong 
 gia đình như ông bà, bố mẹ, anh chị em ruột. Bé có thể ôm hôn những người này 
 hoặc đồng ý đề các thành viên trong nhà ôm hôn, thể hiện tình yêu thương, tắm 
 rửa khi bé còn nhỏ. Nhưng khi đã lớn, bé sẽ tự tắm và thay quần áo trong phòng 
 kín.
 Ngón trỏ - tượng trưng cho thầy cô, bạn bè ở trường lớp hoặc họ hàng của 
 gia đình. Những người này có thể nắm tay, khoác vai hoặc chơi đùa. Song chỉ 
 dừng lại ở đó. Còn nếu ai chạm vào “vùng đồ bơi”, bé sẽ hét to và gọi mẹ.
 Ngón giữa - người quen biết nhưng ít khi gặp như hàng xóm, bạn bè của cha 
 mẹ. Những người này, bé chỉ nên bắt tay, cười và chào hỏi.
 Ngón áp út - người quen của gia đình mà bé mới gặp lần đầu. Với những 
 người này, bé chỉ nên dừng lại ở mức vẫy tay chào.
 7 Ngón út - ngón tay xa bé nhất - thể hiện cho những người hoàn toàn xa lạ 
hoặc người có cử chỉ thân mật, khiến bé thấy lo sợ, bất an. Với những người 
này, bé hoàn toàn có thể bỏ chạy, hét to để thông báo với mọi người xung 
quanh.
 Được quyền ôm Được quyền bắt tay 
 8 Xua tay Vẫy tay
 * Giải pháp 2: Giáo dục trẻ các kỹ năng phòng chống bị xâm hại thông 
qua việc tổ chức các hoạt động trong ngày.
 Tôi chủ động lồng ghép các nội dung giáo dục kỹ năng phòng chống xâm 
hại thông qua các hoạt động học, hoạt động vui chơi, cũng như tất cả các hoạt 
động trong một ngày của trẻ.
 * Thông qua hoạt động học
 Trong hoạt động khám phá khoa học tôi dạy trẻ kỹ năng bảo vệ bản thân 
theo quy tắc 5 ngón tay
 Lĩnh vực: Phát triển tình cảm – Kĩ năng xã hội
 Chủ đề: Bản thân
 Đề tài: Dạy trẻ kỹ năng tự bảo vệ bản thân
 Phòng tránh bị xâm hại
 Đối tượng: Trẻ 5 - 6 tuổi
 I. Mục đích - yêu cầu
 1. Kiến thức
 - Trẻ nhận biết được những bộ phận thuộc vùng riêng tư trên cơ thể.
 - Trẻ nhận biết được đâu là những đụng chạm an toàn và những đụng chạm 
không an toàn.
 - Trẻ biết giữ gìn và bảo vệ, vệ sinh sạch sẽ.
 2. Kỹ năng
 - Rèn kỹ năng phán đoán, suy luận.
 - Rèn cho trẻ một số kỹ năng để xử lý những tình huống xấu khi bị xâm hại.
 - Sử dụng ngôn ngữ mạch lạc để trả lời câu hỏi của cô.
 3. Thái độ
 - Trẻ hứng thú tham gia vào các hoạt động.
 - Giáo dục trẻ biết giữ gìn, bảo vệ cơ thể của mình và không xâm hại cơ thể 
của người khác.
 II. Chuẩn bị
 - Máy tính, máy chiếu, bài giảng thiết kế trên Powerpoint.
 - 3 Bảng từ, 3 Bộ tranh 5 ngón tay và hình ảnh tương ứng với từng ngón 
tay.
 - Video quy tắc 5 ngón tay.
 - 4 biển 2 mặt cười và 2 mặt mếu dạng hình tròn.
 9 - Nhạc bài hát: Head shoulders knees&Toes, Bé khỏe bé ngoan, Năm ngón 
tay xinh.
 III. Cách tiến hành
 Hoạt động của cô Dự kiến hoạt động của trẻ
* Hoạt động 1: Gây hứng thú 
- Cô chào các con. - Trẻ chúng con chào cô ạ
- Các con hãy xúm xít lại gần đây với - Trẻ xúm xít bên cô
cô nào.
- Cô và các con sẽ cùng nhau hát và - Trẻ hát và vận động bài “Head 
vận động theo bài hát: “Head shoulders knees&Toes”
shoulders knees&Toes”để bắt đầu buổi 
học ngày hôm nay nào.
- Trong bài hát có nhắc đến những bộ - 4- 5 trẻ trả lời trẻ trả lời
phận nào trên cơ thể ? - Con thưa cô nói về vai, gối, đầu, các 
 ngón chân 
- Ngoài những bộ phận mà các con - Trẻ lắng nghe và tiếp thu
vừa kể thì trên cơ thể chúng ta còn có 
rất nhiều các bộ phận khác nữa tất cả 
các bộ phận đều có những chức năng 
riêng mà chúng ta cần phải bảo vệ, 
trong số đó có những bộ phận được coi 
là thầm kín, nhạy cảm mà mọi người - Cô mời 3- 5 trẻ trả lời
không được phép đụng chạm vào. - con thưa cô có miệng, ngực, 
 mông 
- Các con có biết những bộ phận riêng - Trẻ chú ý lắng nghe.
tư thầm kín đó là gì không?
Trong bài học ngày hôm nay cô và các 
con sẽ cùng nhau tìm hiểu để biết xem 
những vùng riêng tư, thầm kín đó là gì 
nhé?
* Hoạt động 2: Tìm hiểu về xâm hại 
và phòng tránh xâm hại trẻ em.
 - Cô mời 3- 5 trẻ trả lời .
- Các con nghe cô hỏi đã bao giờ có ai 
đó chạm vào các con mà khiến cho các - Con thưa cô không có ai ạ 
con cảm thấy không thoải mái chưa?
- Để biết được có ai đó làm gì sai hoặc - Trẻ lắng nghe.
có những đụng chạm không đúng với 
 - Trẻ quan sát và tiếp thu.
chúng ta thì các con hãy cùng hướng 
 10 mắt lên màn hình xem và nghe nhé.
- Cô giải thích và cho trẻ xem hình - Trẻ quan sát đoạn vi deo và trả lời 
ảnh. các vùng riêng tư trên cơ thể...
- Trên cơ thể của mỗi con người chúng - Trẻ lắng nghe quan sát vi deo tiếp 
ta đều có những vùng riêng tư trên cơ thu.
thể, đó là miệng, ngực, vùng giữa 2 
đùi đây còn được gọi là bộ phận sinh 
dục là phần tiểu tiện của các con con - Trẻ ghi nhớ 4 vùng riêng tư không 
gái gọi là “bím” con trai gọi là “ chim” ai được phép chạm vào và không ai 
và phần mông. được phép bắt cháu chạm vào chỗ đó 
 trên cơ thể của họ như ngực, miệng, 
Đây là 4 vùng mà không ai được phép 
 mông, phần giữa hai đùi.
chạm vào hoặc không ai được phép bắt 
các con chạm vào những chỗ đó trên 
cơ thể của họ.
- Bây giờ các con hãy cùng nhắc lại - Cả lớp nhắc 2- 3 lần
cho cô nghe 4 vùng riêng tư, thầm kín 
này nào? - 15- 20 trẻ nhắc lại
( Cô bao quát trẻ trả lời và gợi ý ) - trẻ trả lời 5- 10 trẻ.
- Theo các con, ai là người được phép - Bố mẹ, ông bà, anh chị em ruột của 
chạm vào những vùng riêng tư này. chúng ta. 
 - Trẻ chú ý lắng nghe và tiếp thu biết 
 được là những bộ phận riêng tư của 
- Đây chính là những bộ phận riêng tư mình mà chỉ có những người đáng tin 
của chúng ta mà chỉ có những người nhất như bố mẹ, ông bà, anh chị em 
đáng tin nhất như bố mẹ, ông bà, anh ruột mới được nhìn thấy hay chạm 
chị em ruột của chúng ta mới được vào những vùng riêng tư này của con 
nhìn thấy hay chạm vào những vùng khi tắm và làm vệ sinh cho con khi 
riêng tư này của các con khi tắm và còn nhỏ, và bây giờ đã lớn rồi, các 
làm vệ sinh cho các con khi các con con có thể tự tắm và thay quần áo 
còn nhỏ đấy. trong phòng kín hoặc thi thoảng bác 
 sĩ có thể khám cho các con ở bộ phận 
 riêng tư nếu bố mẹ con có ở đó, 
 những việc này giúp các con sạch sẽ 
- Các con cho cô biết khi các con đi và khỏe mạnh.
học về và được mẹ ôm vào lòng các 
 - 4- 6 trẻ trả lời
con cảm thấy như thế nào? Các con có 
cảm thấy vui không? - Con thưa cô con vui ạ.
 - Con thưa cô con cảm thấy mẹ rất 
 yêu con ạ.
 - Con thưa cô mẹ thương con ạ.
 11 - Con thưa cô mẹ nhớ con ạ.
 - Con thưa cô mẹ thích con ạ.
-> Khi chúng ta được những người mà - Trẻ chú ý lắng nghe và tiếp thu lời 
chúng ta yêu thương và tin tưởng cô.
chạm vào chúng ta gọi đó là những 
đụng chạm tốt hoặc những đụng chạm 
an toàn.
- Vậy bây giờ theo các con những 
người nào không được phép đụng đến - 3- 5 trẻ trả lời
những vùng riêng tư này?
 - Con thưa cô người lạ ạ
 - Con thưa cô người quen gặp vài lần 
 ạ.
-> Những người hàng xóm, người - Con thưa cô hàng xóm ạ 
quen, người xa lạ đều là những người 
không được phép đụng chạm vào 
những vùng riêng tư của các con, nếu - Trẻ chú ý lắng nghe và tiếp thu.
có ai đó chạm vào một trong số những 
vùng riêng tư này và những đụng - Trẻ ghi nhớ lời cô.
chạm đó có thể khiến các con cảm 
thấy xấu hổ, sợ hãi, không thoải mái 
và không hề vui vẻ thì chúng ta gọi đó 
là những đụng chạm xấu hoặc những 
đụng chạm không an toàn.
- Nếu có người cố tình muốn chạm vào 
những vùng riêng tư của của các con - Cô mời 3- 5 trẻ trả lời
thì các con sẽ làm thế nào? - Con thưa cô con khoe bố mẹ ạ
 - Con thưa cô con gào lên, hay hét to 
 ạ
 - Con thưa cô con chạy ạ.
-> Chúng ta có thể phản ứng lại như - Con thưa cô con đẩy ra ạ
cắn, đẩy ra và phải hét nên thật to - Trẻ chú ý lắng nghe và tiếp thu lời 
“Không, không được” sau đó chạy đến cô dạy.
bên ai đó mà các con tin tưởng và kể 
cho họ nghe toàn bộ sự việc.
- Nói cho cô xem ai là người các con 
tin tưởng? - Cô mời 4- 6 trẻ trả lời
 - Con thưa cô mẹ con ạ
 - Con thưa cô bà con ạ
 12 - Con thưa cô chị con ạ
 - Con thưa cô bố con ạ
 - Con thưa cô con thưa cô giáo ạ 
-> Khi có ai đó đụng chạm vào những - Trẻ chú ý lắng nghe và tiếp thu.
vùng riêng tư trên cơ thể khiến các con 
cảm thấy không thoải mái thì các con 
sẽ phải kể ngay với ai đó mà các con 
cảm thấy tin tưởng như: ông bà, bố - Trẻ lắng nghe tiếp thu lời cô dạy và 
mẹ, cô giáo. Việc đó sẽ giúp đảm bảo mạnh dạn, tự tin .
rằng những chuyện tương tự sẽ không 
bao giờ sảy ra với các con hay với bất 
kỳ bạn nhỏ nào khác.
- Các con đừng bao giờ sợ hãi khi nói - Trẻ lắng nghe tiếp thu
ra những suy nghĩ của mình, nếu có ai 
đó làm hại các con hãy nói ra ngay lập 
tức nhé.
* Củng cố 
* Quy tắc 5 ngón tay:
- Bây giờ cô mời các con cùng hướng - Trẻ chú ý, lắng nghe
mắt lên màn hình xem clip Quy tắc 5 
ngón tay để chúng mình biết những ai 
chúng mình có thể ôm, hôn che chở 
còn những người lạ thì giữ khoảng 
cách như thế nào nhé.
- Cô cho trẻ xem video “Quy tắc 5 
ngón tay” - Trẻ xem hình ảnh vi deo trên máy 
- Các con vừa được xem video gì? chiếu.
 - Trẻ trả lời cả lớp 2- 3 lần.
 - Cô mời 2- 4 trẻ trả lời.
- Ngón tay cái tượng trưng cho ai? - Con thưa cô về quy tắc 5 ngón tay ạ
Những người nào được phép làm gì - 2- 4 trẻ trả lời ngón cái tượng trưng 
với mình? cho những người thân ruột thịt trong 
 gia đình như ông bà, bố mẹ, anh chị 
 em ruột. Con có thể ôm hôn những 
( Cô động viên, khích lệ trẻ) người này hoặc đồng ý đề các thành 
 viên trong nhà ôm hôn, thể hiện tình 
 yêu thương, tắm rửa khi còn nhỏ. 
- Ngón trỏ tượng trưng cho ai, những Nhưng khi đã lớn, con sẽ tự tắm và 
người đó được phép làm gì với mình? thay quần áo trong phòng kín.
 13 - 3- 5 trẻ trả lời
 - Ngón trỏ - tượng trưng cho thầy cô, 
 bạn bè ở trường lớp hoặc họ hàng của 
 gia đình. Những người này có thể 
( Cô động viên, khích lệ trẻ) nắm tay, khoác vai hoặc chơi đùa. 
 Song chỉ dừng lại ở đó. Còn nếu ai 
 chạm vào “vùng đồ bơi”, con sẽ hét 
- Ngón giữa tượng trưng cho ai? Và to và gọi mẹ.
mình sẽ làm gì với họ?
 - 2- 4 trẻ trả lời
 - Ngón giữa - người quen biết nhưng 
( Cô động viên, khích lệ trẻ) ít khi gặp như hàng xóm, bạn bè của 
- Ngón áp út tượng trưng cho ai? Mình cha mẹ. Những người này, bé chỉ nên 
sẽ phải làm gì khi gặp họ? bắt tay, cười và chào hỏi.
 - 3- 5 trẻ trả lời
( Cô động viên, khích lệ trẻ) - Ngón áp út - người quen của gia 
 đình mà con mới gặp lần đầu. Với 
 những người này, con chỉ nên dừng 
- Ngón út tượng trưng cho ai? Khi gặp lại ở mức vẫy tay chào.
họ mình sẽ làm gì? - 2- 4 trẻ trả lời
 - Ngón út - ngón tay xa bé nhất - thể 
 hiện cho những người hoàn toàn xa lạ 
 hoặc người có cử chỉ thân mật, khiến
 bé thấy lo sợ, bất an. Với những 
 người này, bé hoàn toàn có thể bỏ 
- Cô cho trẻ xem 1 đoạn video tình chạy, hét to để thông báo với mọi 
huống. người xung quanh.
- Trong video vừa rồi bạn Na đã gặp - Trẻ chú ý quan sát và lắng nghe.
phải tình huống ntn?
 - 3- 4 trẻ trả lời.
 - Con thưa cô gặp người lạ và cho 
 quà ạ.
- Nếu là các con trong tình huống này - Con thưa cô người lạ đòi ôm hôn 
các con sẽ xử lý ra sao? ạ 
 - 3- 5 trẻ trả lời.
 - Con thưa cô con sẽ nói cảm ơn và 
 không nhận ạ.
 - Con thưa cô con sẽ kêu to và khoe 
 14 với mẹ ạ.
 - Con thưa cô con chạy nhanh đi về 
 nhà ạ 
- Chúng mình cùng xem tiếp đoạn 
video để xem bạn Na đã xử lý tình 
huống này ntn nhé?
 - Trẻ quan sát và chú ý lắng nghe.
- Bạn Na đã xử lý tình huống như thế 
 - Trẻ trả lời 2- 3 trẻ trả lời.
nào? Có giống với cô trò mình không 
nào? 
( Cô động viên, khích lệ trẻ).
* Trò chơi: - Trẻ hào hứng rê 
* Bây giờ cô mời các con cùng tham 
gia một trò chơi có tên “ Những ngón - Trẻ chú ý lắng nghe co phổ biến 
tay biết nói” cách chơi, luật chơi.
- Cách chơi như sau: Cô sẽ chia lớp 
mình thành 3 đội, cô đã chuẩn bị cho 
mỗi đội hình 1 bàn tay xinh xắn và - Chia làm 3 đội 
những bức hình . Nhiệm vụ của các - Trẻ chơi vui vẻ, đúng luật.
đội là sẽ phải hội ý với nhau trong thời 
gian là 10 giây, sau khi 10 giây kết 
thúc các đội sẽ trở về hàng và bắt đầu 
trò chơi, các bạn sẽ lần lượt lên gắn 
những bức hình tương ứng với từng 
ngón tay trên bảng. trong thời gian 1 
bản nhạc, đội nào gắn nhanh, gắn đúng 
đội đó sẽ giành chiến thắng
- Cô nhận xét sau khi cho trẻ chơi, cô 
đông viên, khích lệ trẻ. - Trẻ chú ý quan sát và lắng nghe.
* Trò chơi:
Bé với câu hỏi trắc nghiệm.
- Cô giới thiệu cách chơi: Cô chia lớp - Trẻ rê 
thành 2 nhóm, lắng nghe cô đọc câu 
hỏi, câu đố, trẻ 2 nhóm thảo luận 1 - Trẻ chú ý quan sát và lắng nghe
phút khi có hiệu lệnh thì giơ đáp án - Trẻ thảo luận theo nhóm và khi có 
đúng mặt cười và sai là mặt mếu. tín hiệu đưa ra đáp án của nhóm 
Nhóm nào trả lời đúng nhiều hơn là mình.
thắng.
*Hoạt động 3: Kết thúc:
Cô cùng trẻ đứng dậy vận động bài “ 
 - Trẻ vận động đúng nhạc.
 15 Năm ngón tay xinh”
 *Trong giờ hoạt động Âm nhạc dạy trẻ các bài hát: Năm ngón tay xinh, Tự 
bảo vệ mình nhé (NS Nguyễn Văn Chung) 
 *Trong hoạt động Tạo hình “Vẽ về tuyên truyền phòng chống xâm hại”
 *Hoạt động làm quen văn học: “Chuyện của bạn Komal”
 3.2.2. Thông qua hoạt động khác
* Hoạt động góc
 Ảnh: Trẻ chơi hoạt động góc mô phỏng kỹ năng phòng chống xâm hại
 * Góc sách truyện: “Đọc” sách truyện về xâm hại trẻ em
 Cô chuẩn bị: Sách, truyện về Xâm hại trẻ em, về cơ thể của bé: “Cơ thể con 
là của con”, “Con không bao giờ đi lạc”, “Con không bao giờ đi cùng người lạ” 
và “Đó là tớ từ đầu đến chân”.
 Kỹ năng chơi: Trẻ “đọc” cùng các bạn trò chuyện về các hình ảnh trong 
sách, truyện.
 Cô đọc sách, kể chuyện cho trẻ nghe, qua câu chuyện giáo dục trẻ về kỹ năng 
phòng, tránh.
 Hình ảnh cô và trẻ say sưa đọc 
 sách tại góc mở Thư viện của bé
 * Góc kỹ năng: Qui tắc đồ bơi cho 
 bé, Qui tắc 5 ngón tay
 16 Chuẩn bị: bộ kỹ năng của bé có qui tắc đồ bơi cho trẻ chơi
 Kỹ năng chơi: Trẻ tìm những vùng đồ bơi không được chạm vào
 * Góc vận động: Chơi võ tự vệ
 Chuẩn bị: thảm cỏ
 Kỹ năng chơi: Trẻ chơi theo đôi, biết sử lý tình huống khi bị kẻ xấu đụng 
chạm vào vùng đồ bơi
 * Góc gia đình: Giáo dục giới tính “Mẹ dạy bé bảo vệ bản thân”
 CB: búp bê, chậu, đồ bơi
 Kỹ năng chơi: Trẻ đóng vai chơi, mẹ hướng dẫn con các vùng riêng tư thông 
qua em búp bê
 Ảnh: Trẻ chơi đóng vai hướng dẫn các con vùng riêng tư thông qua búp bê
 *Góc tạo hình: Vẽ tranh tuyên truyền về xâm hại trẻ em, vẽ về các cảnh báo 
chạm, cảnh báo nói và cảnh báo nhìn, cảnh báo một mình 
 17 Ảnh: Trẻ vẽ tranh tuyên truyền về xâm hại trẻ em
 * Góc khám phá: Qui tắc 5 ngón tay
*Hoạt động ngoài trời:
 HĐCCĐ: Trò chuyện về các tình huống xâm hại cơ thể trẻ
 Trò chơi: Võ tự vệ
 18 Trẻ chơi: Tập võ tự vệ
 * Giờ ngủ:
 Cho trẻ nằm riêng bé trai, bé gái
 Trước giờ ngủ tôi có thể kể các câu chuyện về giới tính cho trẻ nghe.
 Ảnh: Trẻ nằm riêng bé trai, bé gái
 Ví dụ: Thế nào là đụng chạm tốt, đụng chạm xấu? Sự khác biệt của con trai 
và con gái? Em bé sinh ra như thế nào?
 Vệ sinh: Phòng vệ sinh trai, gái riêng biệt và có cửa.
 Ảnh: Phòng vệ sinh trai, gái riêng biệt 
 * Hoạt động chiều
 19 - Xem kỹ năng sống tại lớp
 + Xem phim của mầm nhỏ về xâm hại trẻ em
 + Xem kỹ năng sống “Bảo vệ con khỏi xâm hại”
 + Xem kỹ năng sống “Giáo dục giới tính vtv7”: Chú hàng xóm, chuyện ở 
lớp học bơi 
 + Xem kỹ năng sống “Chống xâm hại trẻ em: Họa sĩ tranh Lê Phong Giao 
Sand Art”
 + Xem kỹ năng sống “Những thói quen có thể dẫn tới xâm hại trẻ em”
 Sau khi xem xong clip, chúng tôi có thể cùng thảo luận với con các câu hỏi 
sau:
 - Con sẽ làm gì nếu ai đó lấy mất cái xô và thuổng chơi cát của con?
 - Con sẽ nói/ làm gì nếu con không thích nụ hôn tạm biệt của chú hàng 
xóm?
 - Con sẽ làm gì nếu một người nào đó chạm vào vùng kín của con hoặc yêu 
cầu con sờ vùng kín của họ?
 - Con sẽ làm gì nếu ai đó đẩy con từ trên cầu trượt xuống ?
 - Con sẽ làm gì nếu một bạn ở trường chìa cho con xem vùng kín của bạn 
ấy?
 - Con sẽ làm gì nếu ai đó muốn xem vùng kín của con?
 - Cho trẻ hát các bài hát như “Năm ngón tay xinh”, “Tự vệ mình nhé” của 
nhạc sỹ Nguyễn Văn Chung 
 * Giải pháp 3. Dạy trẻ một số kỹ năng thoát hiểm
 Hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ lứa tuổi mầm non xuất phát từ hai 
môi trường rất cơ bản là gia đình(chủ yếu là cha mẹ) và nhà trường.
 Đối với nhà trường. Đây là môi trường học tập, đồng thời là môi trường để 
các em tiếp xúc với xã hội, phát triển nhận thức và hoàn thiện nhân cách. Do 
vậy, giáo dục kỹ năng sống cho trẻ khi đang ở độ tuổi mầm non là việc làm rất 
cần thiết, trong đó có kỹ năng ứng phó với những hoàn cảnh bất lợi như bị xâm 
hại.
 Đối với môi trường giáo dục (nhà trường), giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 
có thể thông qua tích hợp những nội dung thông qua hoạt động trong ngày, hoạt 
động tự chọn trong và ngoài nhà trường. Một trong những yêu cầu của giáo dục 
kỹ năng sống cho trẻ em là phương pháp tiếp cận tích cực đối với đối tượng, 
Khích lệ yếu tố bảo vệ để hạn chế yếu tố nguy cơ bị xâm hại.
 Đối với gia đình. Môi trường gia đình có yếu tố quan trọng bậc nhất trong 
việc hình thành và phát triển nhân cách của trẻ em. Đây cũng là môi trường, điều 
kiện tốt nhất để giáo dục kỹ năng sống cho trẻ. Bản thân các gia đình đều có 
chức năng, trách nhiệm trong việc nuôi dạy con cái trưởng thành, nhưng trong 
 20

File đính kèm:

  • docskkn_mot_so_bien_phap_day_tre_ky_nang_phong_tranh_bi_xam_hai.doc