SKKN Một số biện pháp giáo dục vệ sinh cá nhân cho trẻ mẫu giáo 3- 4 tuổi tại trường mầm non Đồng Sơn

docx 20 Trang Vi Ngọc 4
Bạn đang xem tài liệu "SKKN Một số biện pháp giáo dục vệ sinh cá nhân cho trẻ mẫu giáo 3- 4 tuổi tại trường mầm non Đồng Sơn", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

Tóm tắt nội dung tài liệu: SKKN Một số biện pháp giáo dục vệ sinh cá nhân cho trẻ mẫu giáo 3- 4 tuổi tại trường mầm non Đồng Sơn

SKKN Một số biện pháp giáo dục vệ sinh cá nhân cho trẻ mẫu giáo 3- 4 tuổi tại trường mầm non Đồng Sơn
 1. Đặt vấn đề
Sức khoẻ là vốn tài sản quý giá nhất của mỗi con người và của quốc gia,
có nhiều yếu tố liên quan mật thiết với nhau , tác động ảnh hưởng đến sức
khoẻ con người trong đó chăm sóc sức khoẻ cho trẻ thơ là việc làm hết sức
cần thiết. Mỗi cá nhân, gia đình, cộng đồng đều có vai trò quan trọng trong
việc chăm sóc giáo dục hình thành ở trẻ một số nề nếp thói quen vệ sinh,
hành vi văn minh và kĩ năng sống đơn giản ban đầu, góp phần tạo cơ hội cho
trẻ sống, phát triển một cách khoẻ mạnh. Nếu được chăm sóc tốt và hình
thành những thói quen vệ sinh cá nhân cần thiết từ nhỏ thì sẽ tạo thành nền
móng vững chắc về sau này. 
Đối với trẻ mầm non việc giáo dục ý thức vệ sinh cá nhân nhằm giúp trẻ khỏe mạnh, có 
thói quen vệ sinh có hành vi văn minh và phòng chống bệnh tật là việc làm quan trọng 
và rất cần thiết. Việc làm này cần có sự kiên trì, tỉ mỉ của cô giáo, sự phối hợp rèn luyện 
thói quen cho trẻ của gia đình, sự đầu tư trang thiết bị chăm sóc vệ sinh và các điều 
kiện thuận tiện cho hoạt động vệ sinh của trẻ.
Không phải trẻ nhỏ nào cũng có thói quen biết rửa tay lúc bẩn, trước khi ăn và sau khi 
đi vệ sinh, biết đánh răng, rửa mặt đúng quy trình Muốn tạo được thói quen cho trẻ 
thì nhiệm vụ của cô giáo là hết sức quan trọng. Cô giáo phải thường xuyên rèn luyện và 
tạo thói quen cho trẻ với nhiều hình thức. Quá trình thực hiện nội dung giáo dục và rèn 
luyện thói quen vệ sinh cá nhân cho trẻ ở trường mầm non đã được giáo viên năng 
động, sáng tạo, tìm tòi nhiều hình thức và phương pháp phù hợp để chuyển tải những 
nội dung và kĩ năng rửa tay bằng
xà phòng, rửa mặt đến trẻ.
 Hiện nay cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường một mặt làm cho đời 
sống của con người được nâng cao, nhưng đó cũng có mặt trái của nó, đó là: khiến cho 
một số gia đình cuốn vào guồng quay kiếm tiền mà quên đi việc giáo dục, chăm sóc các 
con. Là giáo viên mầm non dạy lớp bán trú ngay từ những năm học đầu tiên thực hiện việc 
tổ chức bán trú ở trường mầm non, có một thực tế làm tôi luôn trăn trở đó là: Việc rèn 
thói quen vệ sinh cá nhân cho trẻ là một việc làm hết sức khó khăn. Xác định nhiệm vụ 
cũng như trách nhiệm nặng nề của mình, bản thân tôi lúc nào cũng canh cánh trong 
lòng phải làm thế nào để rèn được thói quen rửa tay, rửa mặt một cách tự giác và đúng 
quy trình.Với tinh thần trách nhiệm cao, lòng say mê nhiệt tình ham học hỏi. Nên tôi tự 
hỏi mình rằng: Phải làm gì? Làm như thế nào? Để đưa ra những biện pháp tối ưu nhất 
khi thực hiện chuyên đề.
Từ những lý luận và thực tiễn trên với vai trò là một giáo viên mầm non tôi luôn băn 
khoăn làm thế nào để thực hiện tốt công tác chăm sóc giáo dục trẻ. Nhất là công tác 
giáo dục vệ sinh cá nhân cho trẻ mẫu giáo, đặc biệt là trẻ mẫu giáo bé. Xuất phát từ 
những lý do đó tôi mạnh dạn chọn đề tài: “Một số biện pháp giáo dục vệ sinh cá nhân 
cho trẻ mẫu giáo 3- 4 tuổi tại trường mầm non Đồng Sơn” để nghiên cứu.
* Mục đích nghiên cứu
- Sức khoẻ là vốn quý nhất của con người. Ngoài yếu tố di truyền, chăm sóc sức khỏe 
chế độ dinh dưỡng hợp lý thì phần lớn sức khỏe phụ thuộc vào yếu tố chăm sóc vệ sinh. 
Vì vậy việc rèn thói quen vệ sinh cho trẻ là một việc làm thiết thực nhằm giúp trẻ khỏe 
mạnh, có thói quen vệ sinh và phòng tránh bệnh tật một cách tốt hơn.
- Việc giáo dục vệ sinh cho trẻ được lồng ghép vào các hoạt động hằng ngày tạo điều 
kiện được trải nghiệm, tích lũy vốn kinh nghiệm sống cho bản thân.
 * Nhiệm vụ nghiên cứu
- Điều tra thực trạng tại cơ sở.
- Khảo sát trên trẻ ở nhóm lớp mình phụ trách.
- Nghiên cứu các tài liệu về công tác vệ sinh.
- Tìm ra giải pháp thực hiện để nâng cao chất lượng giáo dục vệ sinh ở trẻ.
- Đối chiếu kết quả đạt được trên trẻ sau khi thực hiện đề tài. * Đối tượng nghiên cứu
 Giáo dục vệ sinh cá nhân cho trẻ mẫu giáo 3 - 4 tuổi C3 trường mầm non Đồng Sơn 
với tổng số trẻ là 32 cháu.
* Phương pháp nghiên cứu
+ Phương pháp quan sát
+ Phương pháp trò chuyện
+ Phương pháp thực hành trải nghiệm.
+ Phương pháp tổng hợp
+ Phương pháp điều tra, khảo sát.
+ Phương pháp trực quan: Làm mẫu, thực hành...
+ Phương pháp dùng lời: Đàm thoại, giảng giải...
+ Phương pháp nghiên cứu tài liệu
2. Giải quyết vấn đề
2.1. Cơ sở lý luận của vấn đề
Giáo dục mầm non là mắt xích đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, chịu trách 
nhiệm chăm sóc, giáo dục trẻ từ 0-6 tuổi. Đây là giai đoạn đặt nền móng đầu tiên quan 
trọng của nhân cách con người. Nếu không làm tốt việc chăm sóc, giáo dục trẻ trong 
những năm này thì việc giáo dục lại hết sức khó khăn, phức tạp. Quán triệt nghị quyết 
TW Đảng, những năm gần đây giáo dục không ngừng đổi mới về nội dung, hình thức, 
phương pháp dạy học. Xác định đây là nhiệm vụ quan trọng, ngành học mầm non cũng 
có những đổi mới cơ bản, tăng cường đổi mới phương pháp dạy học nhằm phát huy 
tính tích cực của trẻ, hình thành ở trẻ phẩm chất mạnh dạn, chú trọng giáo dục hình 
thành các thói quen phù hợp với độ tuổi của trẻ, với yêu cầu của xã hội hiện đại và 
truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc.
 Trẻ em từ 0-6 tuổi lớn và phát triển nhanh hơn bất kỳ thời điểm nào khác trong cuộc 
đời của một con người. Sự phát triển ở giai đoạn này tốt hay không phụ thuộc vào rất nhiều các yếu tố, trong đó vấn đề về giữ gìn vệ sinh cho trẻ là một trong những vấn đề 
thiết yếu của bậc học mầm non khi trẻ lần đầu tiên đặt chân đến môi trường gia đình 
thứ hai của mình. Ngoài ra, việc giữ gìn vệ sinh tốt sẽ giúp cho trẻ có thể lực tốt, hạn 
chế sự phát sinh của các dịch bệnh, hạn chế tỷ lệ trẻ bị suy dinh dưỡng do mất vệ sinh. 
Vì vậy cô giáo chủ nhiệm, người mẹ thứ hai của trẻ có vai trò rất quan trọng trong việc 
nuôi dưỡng và uốn nắn những đứa con của mình phát triển một cách khoẻ mạnh nhất 
và phù hợp với chuẩn mực vệ sinh chung của mọi người.
2.2.Thực trạng
2.2.1. Thuận lợi
Được sự quan tâm chỉ đạo sâu sát của ban giám hiệu nhà trường. Cơ sở vật chất của 
nhà trường tương đối khang trang. Khu vực vệ sinh cho trẻ luôn được khô ráo, sạch sẽ, 
thoáng mát. Trong lớp có góc tuyên truyền cho các bậc cha mẹ biết. Nhà trường đã 
trang bị đầy đủ đồ dùng vệ sinh cá nhân cho trẻ như xà phòng, khăn lau mặt, chậu đựng 
nước, bàn chải đánh răng, mô hình bàn chải... đủ cho từng trẻ. 
Trường đã có y tế học đường và có phòng y tế 
Bản thân là giáo viên có trình độ chuyên môn trên chuẩn, với nhiều năm công tác, nhiệt 
tình, yêu nghề, mến trẻ, luôn coi học sinh như chính con đẻ của mình. Bản thân cũng 
có không ít kinh nghiệm trong công tác chăm sóc, giáo giục vệ sinh cá nhân cho trẻ.
Các đồng chí giáo viên trong tổ luôn có tinh thần đoàn kết, giúp đỡ nhau hoàn thành 
nhiệm vụ.
Các cháu được học: trường bán trú, các cháu đi học cả ngày.
2.2.2. Khó khăn
Trẻ còn quá nhỏ chưa nhận thức được tầm quan trọng của giữ gì vệ sinh 
cá nhân, trẻ hay quên, hay đòi nghịch với xà phòng và nước khi ra nhà vệ sinh.
 Mặt khác do nhận thức của phụ huynh còn hạn chế trong việc “vệ sinh cá nhân cho 
trẻ” phụ huynh không hiểu rõ các bệnh có thể lây nhiễm do vệ sinh kém. Khả năng tiếp thu kiến thức của trẻ còn hạn chế. Một số cháu chưa hề được đến 
trường, lớp và một số cháu còn quá nhỏ do sinh vào những tháng cuối năm. 
Về nhà các cháu vẫn được bố mẹ vệ sinh tay mặt cho và nếu có cho trẻ làm thì cũng làm 
chưa đúng các thao tác mà trẻ được học ở lớp.
Đa số phụ huynh sống bằng nghề làm nông là chính, do vậy điều kiện kinh tế còn khó 
khăn, ít có điều kiện quan tâm chăm sóc chu đáo đến con cái.
Công tác phối kết hợp với với gia đình cùng thực hiện để tạo nề nếp, thói quen cho trẻ 
còn nhiều hạn chế. Một số phụ huynh chưa quan tâm đến việc rèn luyện thói quen vệ 
sinh cá nhân cho trẻ. 
Cơ sở vật chất trong khu vực vệ sinh của các lớp khu lẻ đã có một số hư hỏng như vòi 
nước rửa tay, bệ nhà cầu hay bị tắc...
 2.3. Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề
2.3.1. Tự học tập để nâng cao trình độ chuyên môn trong kiến thức về giáo dục vệ sinh 
cá nhân cho trẻ.
Bản thân tôi luôn xác định muốn rèn luyện cho trẻ mẫu giáo Bé có thói quen trong việc 
giữ gìn vệ sinh cá nhân thì việc làm đầu tiên là cô giáo phải có kiến thức chuẩn xác về kĩ 
năng thực hành, chính vì điều đó mà bản thân tôi luôn tìm tòi học hỏi các tài liệu có liên 
quan để nghiên cứu, qua tài liệu tôi đã tiếp thu được các quy trình đúng về rửa tay, rửa 
mặt, đánh răng và áp dụng vào dạy trẻ. 
Thường xuyên tìm tòi trên mạng Interner những đoạn video có tính giáo dục cao về giáo 
dục vệ sinh cá nhân cho trẻ để lồng ghép đưa vào các hoạt động dạy trẻ. Học hỏi kinh 
nghiệm ở đồng nghiệp các giáo viên trước đây đã từng đứng lớp bé trao đổi những 
phương pháp cách làm để giúp trẻ nhanh ghi nhớ các thao tác vệ sinh cá nhân và thực 
hiện một cách tự giác. Hình ảnh: Dự giờ hoạt động vệ sinh rửa tay.
 2.3.2. Giáo dục vệ sinh thông qua các hoạt động trong ngày
- Giờ đón trẻ: Trao đổi với phụ huynh có trẻ chưa sạch sẽ gọn gàng khi đến lớp nhắc 
phụ huynh đem theo khăn lau đối với các cháu bị đau hay chảy nước mũi. Hoặc trò 
chuyện với trẻ lần sau đi học phải sạch sẽ gọn gàng; trò chuyện với trẻ về công việc hằng 
ngày sau mỗi buổi sáng thức dậy: Bé làm những gì ? Vì sao phải làm như thế ? và làm 
như thế nào? Trẻ chia sẻ những ý kiến của mình và cô nhắc nhở trẻ làm đúng. Không 
quên dặn trẻ cách giữ gìn vệ sinh các nhân như cắt ngắn móng tay, móng chân, rửa tay 
thường xuyên dưới vòi nước sạch. Hình ảnh: Trao đổi với phụ huymh.
- Chơi ngoài trời: Dạo chơi sân trường tôi cho trẻ quan sát các hình ảnh tuyên truyền về 
vệ sinh ở góc tuyên truyền của nhà trường, cho trẻ trò chuyện sau đó cho trẻ cùng làm 
mô phỏng các thao tác thực hành cùng cô qua đó giúp trẻ ghi nhớ lâu hơn.
- Giờ hoạt động học: Tôi lồng ghép công tác giáo dục vệ sinh vào các hoạt động học 
trong từng môn học tùy theo từng chủ đề. 
Ví dụ: Trong giờ hoạt động học có chủ đích tôi thường lồng ghép nội dung giáo dục vệ 
sinh vào những lúc cần thiết ( nếu được). VD môn GDAN, LQVH tôi thường sử dụng các 
bài hát, câu đố, bài thơ cung cấp kiến thức vệ sinh cho trẻ như: bài hát chiếc khăn tay, 
rửa mặt như mèo, tay ngoan tay thơm, vì sao mèo rửa mặt, tay xinh của bé, bàn tay 
sạch, khám tay, Các bài thơ: giữ hàm răng đẹp, tắm gội, cô dặn bé, bé tập rửa mặt, đi dép, rửa tay sạch, đôi bàn tay của bé, áo quần sạch sẽ, hoặc qua những câu chuyện, 
kể chuyện theo tranh.
 Hình ảnh: Giờ học của trẻ
- Trong giờ chơi hoạt động góc: Tôi thường cho trẻ chơi các trò chơi như: Rửa mặt cho 
búp bê, rửa tay cho búp bê, luôn nhắc nhở trẻ khi chơi xong phải cất xếp đồ chơi gọn 
gàng, rửa tay sạch sẽ. 
- Giờ ăn: Trước giờ ăn, tôi thường xuyên nhắc nhở và cho trẻ rửa tay có sự giám sát của 
cô, trẻ ăn xong đánh răng, vệ sinh cá nhân mới vào ngủ, không những giáo dục trẻ vệ 
sinh bằng lời nói mà tôi còn tự sáng tác các bài thơ cho trẻ đọc từ đó trẻ hứng thú và 
nhớ lâu hơn. 
Ví dụ: Bài thơ: “Giờ ăn bé ngoan ” 
Trước khi ăn nhớ rửa tay sạch sẽ.
Vào bàn bé nhớ phải thật ngoan Ăn cơm không đổ ra bàn
Không nên nói chuyện cơm văng ra ngoài
Giờ ăn bé nhớ phải ngoan
Đến chiều bé đượng tặng ngay cây cờ
- Hoạt động chiều: Khi trẻ ngủ dậy tôi không cho trẻ ra ăn ngay mà cho trẻ đi vệ sinh, 
sau đó cho trẻ rửa tay, rửa mặt sạch sẽ. Ngoài việc ôn luyện kiến thức tôi thường ôn 
luyện các thao tác vệ sinh như tập cho trẻ rửa tay, rửa mặt đúng cách Đây là thời điểm 
tôi hướng dẫn lại cho trẻ kĩ năng thực hành vệ sinh một cách cụ thể theo quy trình. Từ 
đó giúp trẻ ghi nhớ các kĩ năng hướng dẫn trong ngày của cô giáo. Cho trẻ vệ sinh sạch 
sẽ để nêu gương. Hình ảnh: Trẻ rửa tay, rửa mặt.
- Giờ nêu gương cuối ngày: Tôi thường xuyên chú trọng và đưa giáo dục vệ sinh cá nhân 
vào nội dung tiêu chuẩn bé ngoan. Sau mỗi tuần nếu trẻ thực hiện tốt tiêu chuẩn đó thì 
thay đổi nội dung giáo dục vệ sinh khác một cách hợp lý.Nếu trẻ nào thực hiện tốt tiêu 
chuẩn trên và được cả lớp nhất trí thì sẽ được cắm cờ. 
- Giờ trả trẻ: trao đổi với phụ huynh giáo dục trẻ vệ sinh tay trước khi ăn 
và sau khi đi vệ sinh. Hình ảnh: Trẻ lên cắm cờ.
2.3.3. Làm gương cho trẻ noi theo
Ở lứa tuổi của trẻ luôn coi cô giáo là “thần tượng” của bản thân. Vì vậy mọi việc làm của 
cô giáo luôn được trẻ lưu tâm và để ý nhất. Trẻ hay bắt chước lời nói, cử chỉ, điệu bộ, 
hành động của cô giáo bởi trẻ muốn mình là một phần giống như cô giáo.
 Cô giáo phải là tấm gương đầu để trẻ noi theo vì: Đặc điểm của trẻ là hay bắt chước, 
đặc biệt là hay bắt chước người lớn mà trẻ yêu mến. Do đó trẻ có thể bắt chước cái 
đúng, cái tốt, nhưng cũng có thể bắt chước cái sai, cái xấu. Vì vậy cô giáo cần phải tự 
rèn luyện bản thân và tuân thủ những yêu cầu vệ sinh của lớp, nhà trường, thực hiện 
triệt để lời nói phải đi đôi với việc làm để thực sự là tấm gương sáng cho các cháu.
 Để trẻ làm tốt mọi thao tác vệ sinh cô giáo cần phải thực hiện thuần thục và duy 
trì thường xuyên công tác vệ sinh cá nhân ở trên lớp. Từ đó trẻ bắt trước và làm theo 
cô. Nếu như cô thực hiện sai lệch thì trẻ cũng sẽ làm sai giống như cô.
2.3.4. Phối kết hợp giữa nhà trường, gia đình và trạm y tế.
Trong việc chăm sóc giáo dục vệ sinh và sức khỏe trẻ thơ nhằm rèn cho trẻ thói quen 
vệ sinh văn minh bền vững cho trẻ, trước hết giáo viên phải làm tốt công tác tuyên 
truyền để các bậc phụ huynh nhận thức đầy đủ về ý nghĩa và tầm quan trọng trong việc 
giữ gìn vệ sinh cá nhân cho trẻ. Trong buổi họp đầu năm tôi đã tổ chức tuyên truyền 
đến bậc phụ huynh bằng nhiều hình thức. 
Ví dụ: Ngay từ đầu năm học họp phụ huynh tôi kết hợp tuyên truyền nội dung: “Yêu cầu 
phối hợp của cha mẹ trong việc chăm sóc cá nhân cho trẻ; tầm quan trọng của việc giữ 
gìn vệ sinh đôi tay và thao tác thực hiện (Quy trình rửa tay đúng thao tác)”. “Vì sao phải 
rửa mặt? Thao tác thực hiện?; Lợi ích của việc chăm sóc răng miệng; thao tác chải răng”. 
Phụ huynh ý kiến phản hồi với nội dung tuyên truyền của giáo viên, đồng thời trao đổi 
với giáo viên về thói quen vệ sinh của mỗi trẻ khi ở nhà từ đó giáo viên đưa ra ý kiến kết 
luận của buổi truyền thông.
Tuyên truyền thông qua góc tuyên truyền của nhà trường, các lớp, giờ đón và trả trẻ: Yêu cầu các lớp phải tuyên truyền với nội dung phong phú và phải thay đổi 
thường xuyên, lựa chọn nội dung tuyên truyền phải hay, hấp dẫn, đẹp thì tạo được sự 
chú ý cho phụ huynh. Qua những lần trao đổi trực tiếp và qua bảng tuyên truyền như 
vậy thì tôi thấy nhận thức của phụ huynh ngày cũng khác đi, phụ huynh đã chú ý nhắc 
nhở cháu khi ở nhà, dần dần thói quen của trẻ cũng được thiết lập. Điều đó thuận lợi 
cho giáo viên hơn trong việc giáo dục tạo thói quen vệ sinh cá nhân cho trẻ. 
Làm tốt công tác phối hợp giữa gia đình và nhà trường để thống nhất nội dung, phương 
pháp hướng dẫn vệ sinh, chăm sóc thân thể, từ đó hình thành thói quen thực hành vệ 
sinh ở trẻ. Thực hiện tuyên truyền qua góc trao đổi với phụ huynh của lớp: thực hiện 
khai thác triệt để tác dụng của tranh, tài liệu tuyên truyền; sáng tạo các mô hình đi kèm 
với nội dung tuyên truyền chăm sóc giáo dục vệ sinh cá nhân cho trẻ. Thường xuyên 
phối hợp với trạm y tế tuyên truyền các bệnh liên quan đến vệ sinh, cách phòng tránh. 
Hàng năm liên hệ với trạm y tế khám sức khỏe định kì nhằm phát hiện trẻ bị sâu răng, 
giun sán và một số bệnh khác để kịp thời và phối hợp với phụ huynh hướng dẫn giáo 
dục trẻ cách vi sinh răng miệng, vệ sinh tay sạch sẽ, không mút tay . Hình ảnh: Phối hợp với y tế khám sức khỏe định kỳ cho trẻ 
2.4. Hiệu quả của sáng kiến
Qua áp dụng những biện pháp trên vào việc giáo dục vệ sinh cá nhân cho trẻ tại lớp 3 
tuổi C3, tôi đã thu được những kết quả như sau:
* Đối với giáo viên
- Giáo viên nắm chắc nội dung, phương pháp giáo dục vệ sinh cá nhân cho trẻ.
- Biết cách tổ chức các hoạt động giáo dục vệ sinh cho cá nhân trẻ phù hợp với trẻ 3-4 
tuổi và với thực tế của trường, của lớp.
- Lồng ghép nội dung giáo dục vệ sinh cá nhân cho trẻ thông qua các hoạt động trong 
ngày một cách phù hợp.
- Khẳng định được vị thế của mình trong trường cũng như đối với ngành học.
* Đối với phụ huynh - Các phụ huynh cũng biết được tầm quan trọng của việc giữ gìn vệ sinh cá nhân trẻ 
sạch sẽ và rửa chân tay, mặt như thế nào là đúng cách. Từ đó, nhiều phụ huynh đã rửa 
mặt, rửa chân tay sạch sẽ cho trẻ trước khi đưa tới lớp, móng chân, móng tay cũng được 
cắt sạch sẽ.
Nhận thấy được tầm quan trọng của việc giáo dục ý thức và kỹ năng vệ sinh cá nhân cho 
trẻ.
Để ý hơn thường xuyên trao đổi với giáo viên chủ nhiệm hơn, nắm bắt được kế hoạch, 
nội dung giáo dục của trường cũng như của lớp.
Không chỉ quan tâm đến việc học tập của con mà nhiều các bậc phụ huynh còn tham 
gia đóng góp kinh phí, ủng hộ nguyên vật liệu, ngày công trong việc xây dựng môi trường 
học, mua sắm cơ sở vật chất, trang thiết bị đồ dùng, đồ chơi ở nhóm lớp phục vụ cho 
công tác rèn vệ sinh cá nhân cho trẻ.
Phụ huynh rất yên tâm khi gửi con ở lớp, ở trường và cũng rất phấn khởi trước sự tiến 
bộ rõ rệt của con.
* Đối với trẻ
Sau khi áp dụng những biện pháp về giáo dục vệ sinh cá nhân cho trẻ lớp 
tôi phụ trách, tôi thấy:
- Trẻ nhớ tuần tự các thao tác vệ sinh tay mặt. Nhớ và thuộc các bài thơ về
vệ sinh để áp dụng trong các thao tác vệ sinh.
- Tự rửa tay đúng lần lượt các thao tác thành thạo với dụng cụ vệ sinh và xà phòng.
- Biết vệ sinh tay mặt những lúc cần như lúc ngủ dậy, trước và sau bữa ăn, sau khi đi vệ 
sinh, khi tay mặt bẩn...
- Trẻ biết tự giác vệ sinh đúng thao tác khi ở trường cũng như ở nhà.
- Kết quả cụ thể khảo sát trên 32 trẻ: Trước khi thực hiện giải 
 Sau khi thực hiện giải pháp
 pháp
 STT Nội dung giáo dục Đạt Chưa đạt Đạt Chưa đạt
 Tỷ lệ Tỷ lệ Tỷ lệ Số Tỷ lệ 
 Số trẻ Số trẻ Số trẻ
 % % % trẻ %
 1 Trẻ có thao rửa tay 3/32 9,4 29/32 90,6 30/32 94 2/32 6
 đúng kỹ năng.
 2 Trẻ có thao rửa mặt 4/32 12,5 28/32 87,5 31/32 97 1/32 3
 đúng kỹ năng.
 3 Trẻ có thao đánh 4/32 12,5 28/32 87,5 30/32 94 2/32 6
 răng đúng kỹ năng.
 4 Trẻ biết giữ gìn đầu 5/32 16 27/32 84 31/32 97 1/32 3
 tóc, quần áo gọn 
 gàng.
 5 Trẻ có ý thức vệ sinh 7/32 22 25/32 78 31/32 97 1/32 3
 cá nhân đúng thời 
 điểm.
 6 Ý thức bảo quản đồ 6/32 19 26/32 81 31/32 97 1/32 3
 dùng cá nhân ngăn 
 nắp.
Từ bảng kết quả chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy được kết quả đạt trên trẻ khá cao:
Tỷ lệ trẻ đạt ở tất cả các nội dung đánh giá đều tăng: Ở nội dung Trẻ có thao tác rửa tay 
đúng kỹ năng đầu năm chỉ có 3 trẻ đạt chiếm 9,4% thì đến cuối năm đã tăng lên 30 trẻ 
đạt chiếm 94% tăng 85%. Và ở các nội trẻ có thao rửa mặt đúng kỹ năng; trẻ có thao đánh răng đúng kỹ năng; trẻ biết giữ gìn đầu tóc, quần áo gọn gàng; trẻ có ý thức vệ 
sinh cá nhân đúng thời điểm; Ý thức bảo quản đồ dùng cá nhân ngăn nắp cũng đều tăng 
rõ rệt. 
Điều đó chứng tỏ các biện pháp mà tôi đưa ra là phù hợp và mang lại hiệu quả thiết 
thực.
 3. Kết luận 
3.1. Ý nghĩa 
Giúp trẻ giữ gìn vệ cơ thể sạch sẽ chính là việc giúp trẻ luôn có thể lực khỏe mạnh, 
phòng chống lại các loại bệnh tật. Trẻ khỏe mạnh, ít ốm đau là niềm hạnh phúc của mỗi 
gia đình xã hội. Tuy nhiên muốn trẻ luôn giữ gìn cơ thể sạch sẽ cần phải phải giúp cho 
trẻ ý thức thức được tầm quan trọng của việc giữ gìn cơ thể sạch sẽ. Rèn luyện cho trẻ 
ý thức tự giác trong hoạt động vệ sinh. Muốn trẻ có thể tự giác vệ sinh được nhất thiết 
trẻ phải biết thực hiện các thao tác vệ sinh như thế nào. Muốn vậy những người chăm 
sóc giáo dục trẻ Phụ huynh và giáo viên cần phải tập luyện cho trẻ những thao tác vệ 
sinh 1 cách thành thạo. 
Nhiệm vụ hướng dẫn trẻ thực hiện các thao tác vệ sinh không phải là nhiệm vụ riêng 
của giáo viên hay của phụ huynh mà đây là trách nhiệm chung của những người chăm 
sóc giáo dục trẻ.
Do vậy việc tìm ra biện pháp giúp hướng dẫn trẻ thực hiện các thao tác vệ sinh nhanh 
nhất là 1 việc làm thiết thực. Bên cạnh đó khi trẻ có thể thực hiện thành thạo các thao 
tác vệ sinh cá nhân thành thạo trẻ sẽ hình thành thói quen vệ sinh và có những hành vi 
văn minh cho bản thân và cho xã hội.
 3.2. Ứng dụng
Từ những vốn kinh nghiệm tích lũy tôi đã áp dụng dạy cho trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi ở trường 
mầm non, góp phần giáo dục vệ sinh cá nhân cho trẻ. Với phương pháp này tôi đã áp 
dụng thành công tại lớp mẫu giáo 3-4 tuổi C3, có thể áp dụng được với tất cả các lớp 
trong trường và trường bạn. 3.3. Bài học kinh nghiệm
Qua thực tiễn đã giúp tôi rút ra được bài học kinh nghiêm cho mình: 
Muốn có một kết quả như mong đợi đòi hỏi người giáo viên phải nghiên cứu thực hiện 
hình thức đổi mới, nội dung phương pháp phải phù hợp với lứa tuổi, hình thức tổ chức 
cần phải linh hoạt nhằm thu hút trẻ.
 Tuyệt đối không được xem nhẹ vấn đề giáo dục vệ sinh cá nhân cho trẻ trong suốt 
quá trình chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục trẻ. Tránh làm thay, làm giúp cho trẻ, luôn tạo 
cơ hội cho trẻ được chủ động, tăng phần trách nhiệm và tự tin trong hoạt động.
 Cô giáo luôn phải là tấm gương sáng, yêu thương, tôn trọng và đối xử công bằng với 
trẻ, đảm bảo an toàn tuyệt đối cho trẻ đặc biệt về mặt tinh thần, cô cần kiên nhẫn, 
tránh nóng vội, không sợ mất thời gian, phải mạnh dạn, tự tin, dám nghĩ dám làm khắc 
phục khó khăn để hoàn thành ý tưởng..
 Bản thân mỗi một giáo viên cần nắm được khả năng nhận thức và tâm lý riêng của 
từng trẻ, dành thời gian gần trẻ, tạo được môi trường thân thiện đối với trẻ. 
Luôn có sự gắn kết chặt chẽ giữa gia đình và giáo viên, cần giáo dục một
cách liền mạch, không ngắt quãng, cũng như luôn phân công công việc rõ ràng
cho trẻ và luôn duy trì những thói quen tốt.
Thật nhạy bén để nắm bắt được mọi hành vi của trẻ, phát huy những điểm mạnh và 
thói quen tốt của trẻ, đẩy lùi thói quen chưa tốt.
 Luôn phải tạo được niềm tin đối với trẻ và đặc biệt là phối hợp chặt chẽ với phụ 
huynh học sinh. 
Không bao bọc trẻ, làm thay làm giúp, không yêu cầu trẻ làm gì quá với sức của mình.
 3.4. Kiến nghị, đề xuất
* Đối với phòng giáo dục
Đề nghị Phòng giáo dục và đào tạo tổ chức nhiều buổi tập huấn, hội giảng về chuyên đề vệ sinh giúp giáo viên đặc biệt là những giáo viên trẻ mới vào ngành bồi 
dưỡng chuyên môn, nâng cao năng lực tổ chức các hoạt động vệ sinh.
* Đối với nhà trường 
 Tổ chức các tiết dạy mẫu về nội dung giáo dục vệ sinh cá nhân cho trẻ mầm non 
giúp cho giáo viên có điều kiện học tập, trau dồi kinh nghiệm.
 Trên đây là “ Một số biện pháp giáo dục vệ sinh cá nhân cho trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi” 
mà tôi đã thực hiện tại trường mầm non Đồng Sơn, thành phố Bắc Giang năm học 2020-
2021, tôi rất mong được sự đóng góp từ phía các cấp lãnh đạo và các bạn đồng nghiệp 
để đề tài của tôi được áp dụng trong những năm tới đạt hiệu quả cao hơn.

File đính kèm:

  • docxskkn_mot_so_bien_phap_giao_duc_ve_sinh_ca_nhan_cho_tre_mau_g.docx