SKKN Một số giải pháp phát triển khả năng giao tiếp có văn hóa thông qua giáo dục kỹ năng sống cho trẻ lớp mẫu giáo 3- 4 tuổi

doc 20 Trang Vi Ngọc 4
Bạn đang xem tài liệu "SKKN Một số giải pháp phát triển khả năng giao tiếp có văn hóa thông qua giáo dục kỹ năng sống cho trẻ lớp mẫu giáo 3- 4 tuổi", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

Tóm tắt nội dung tài liệu: SKKN Một số giải pháp phát triển khả năng giao tiếp có văn hóa thông qua giáo dục kỹ năng sống cho trẻ lớp mẫu giáo 3- 4 tuổi

SKKN Một số giải pháp phát triển khả năng giao tiếp có văn hóa thông qua giáo dục kỹ năng sống cho trẻ lớp mẫu giáo 3- 4 tuổi
 PHỤ LỤC
STT Tiêu đề Trang 
 1 Phần mở đầu 2
 1.1 Lý do chọn Sáng kiến 2
 1.2 Điểm mới trong Sáng kiến 3
 2 Phần nội dung 4
 2.1 Thực trạng của nội dung cần nghiên cứu 5
 2.2 Các giải pháp 6
 3 Phần kết luận 16
 3.1 Ý nghĩa, phạm vi áp dụng của Sáng kiến 16
 3.2 Kiến nghị, đề xuất 17
 1 Đề tài: “Một số giải pháp phát triển khả năng giao tiếp có văn hóa 
thông qua giáo dục kỹ năng sống cho trẻ lớp mẫu giáo 3- 4 tuổi”.
 1.ĐẶT VẤN ĐỀ.
 1.1. Lý do chọn đề tài:
 Sinh thời chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến con người. Theo 
Người “Con người là vốn quý nhất” Đảng và Nhà nước ta cũng khẳng định 
“Con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển kinh tế - xã hội”. 
Trong thời đại công nghệ thông tin, kinh tế thị trường phát triển con người là 
yếu tố quyết định mọi sự phát triển.
 Ngay từ khi sinh ra, con người đã có nhu cầu liên lạc, giao tiếp ứng xử 
với môi trường và những người xung quanh để phát triển và tồn tại. Kỹ năng 
giao tiếp được xem là một trong những kỹ năng nền tảng của con người. Đối 
với trẻ em, kỹ năng giao tiếp giúp trẻ xây dựng được các mối quan hệ từ trong 
gia đình đến ngoài xã hội, nhận biết giá trị sống và hình thành các kỹ năng 
sống. Vì thế kỹ năng này cần được quan tâm và giúp trẻ phát triển từng bước 
một trong suốt chiều dài phát triển nhân cách của trẻ.
 Trong tất cả các phương tiện mà con người sử dụng để giao tiếp thì ngôn 
ngữ là phương tiện duy nhất thỏa mãn được các nhu cầu của con người. Giáo 
dục mầm non là giai đoạn đầu tiên trong tiến trình giáo dục của một đời 
người, góp phần xây dựng nền tảng ban đầu của nhân cách con người. Vì thế, 
giao tiếp có văn hóa trong trường học cần được xây dựng ngay từ lứa tuổi 
mầm non. Để giúp trẻ phát triển khả năng giao tiếp có văn hóa cho trẻ trong 
trường mầm non thì mỗi thầy giáo, cô giáo chính là trung tâm trong việc 
truyền kỹ năng văn hóa giao tiếp cho trẻ. Giáo dục kỹ năng sống cho trẻ nhằm 
giúp trẻ phát triển hài hòa, toàn diện về nhân cách. Cung cấp cho trẻ những 
kiến thức cần thiết về kỹ năng sống và hành động cụ thể trong quá trình hoạt 
động thực tiễn của bản thân, với người khác, với xã hội. Trẻ học cách giao 
tiếp, ứng xử với mọi người và thể hiện bản thân một cách tích cực. 
 Nắm được đặc điểm này giáo viên cần giúp trẻ phát triển khả năng giao 
tiếp của mình thông qua giáo dục kỹ năng sống cho trẻ để giúp trẻ tự tin hơn 
khi hòa nhập với xã hội. Vì thế ngay từ lứa tuổi mầm non giáo viên cần dạy 
trẻ những kỹ năng sống, rèn kỹ năng ứng xử phù hợp với các tình huống trong 
cuộc sống, rèn kỹ năng ứng xử có văn hóa...
 Thật vậy, một phần của giáo dục văn hóa giao tiếp là việc tăng cường 
rèn luyện kỹ năng sống cho trẻ như: Kỹ năng mạnh dạn trong giao tiếp, kỹ 
 2 năng biết bảo vệ bản thân, thân thiện với bạn bè, lễ phép với người lớn, hình 
thành các chuẩn mực của đạo đức.
 Tất cả những gì đã trình bày ở trên chính là lý do mà tôi quyết định 
chọn Sáng kiến “Một số giải pháp phát triển khả năng giao tiếp có văn hóa 
thông qua giáo dục kỹ năng sống cho trẻ lớp mẫu giáo 3- 4 tuổi”.
 1.2. Mục đích nghiên cứu:
 Với mục tiêu chung là "lấy trẻ làm trung tâm" nên việc trẻ phát triển khả 
năng giao tiếp của mình thông qua giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 3 - 4 tuổi 
là một trong những nhiệm vụ cần thiết giúp trẻ phát huy được tính tích cực chủ 
động sáng tạo của trẻ, giúp trẻ hứng thú trong các hoạt động học tập, giao tiếp, 
ứng xử phù hợp với tình huống, góp phần phát triển toàn diện nhân cách trẻ. 
Giáo dục trẻ theo hướng lấy trẻ làm trung tâm.
 Đưa ra những phương pháp nghiên cứu và những vấn đề, lý luận về việc 
phát triển khả năng giao tiếp của mình thông qua giáo dục kỹ năng sống cho 
trẻ 3 - 4 tuổi tại trường Mầm Non.
 Nhằm tìm ra những biện pháp giải pháp thiết thực để nâng cao chất lượng 
cho việc phát triển khả năng giao tiếp của mình thông qua giáo dục kỹ năng 
sống cho trẻ 3 - 4 tuổi tại trường Mầm Non.
 Nêu lên những kết quả thực hiện được khi ứng dụng đề tài.
 Có những kiến nghị lên các cấp có thẩm quyền để nâng cao chất lượng 
cho tổ chức hoạt động ngoài trời cho trẻ 3 - 4 tuổi tại trường Mầm Non.
 Sau khi đọc đề tài này tôi đã có phương pháp và biện pháp tổ chức hoạt 
động ngoài trời cho trẻ 3 - 4 tuổi để nâng cao kết quả đạt được trên trẻ. 
 1.3. Nhiệm vụ của sáng kiến
 Hướng dần cho trẻ một số kinh nghiệm cần thiết để tổ chức hoạt động 
ngoài trời cho trẻ.
 Qua rèn kỹ năng sống của trẻ giúp trẻ giao tiếp tự tin, lễ phép, hiểu sâu 
rộng hơn về sự vật, hiện tượng thiên nhiên quanh bé.
 Tìm ra những ưu điểm, tồn tại của trẻ khi giao tiếp với mọi người để uốn 
nắn kịp thời nhằm nâng cao phát triển khả năng giao tiếp có văn hóa thông 
qua giáo dục kỹ năng sống cho trẻ lớp mẫu giáo 3- 4 tuổi .
 Đánh giá kết quả khi tiến hành thực nghiệm so với lớp đối chứng.
 3 Thực nghiệm hình thành.
 Để từ đó làm sáng tỏ hiệu quả các biện pháp đã đề ra.
 2.4. Phương pháp nghiên cứu.
 * Phương pháp nghiên cứu lý luận:
 Đọc tài liệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu, thu thập những vấn đề đã 
được đúc kết về cơ sở của vấn đề .
 Phân tích tổng hợp để rút ra những tri thức lý luận cần thiết cho đề tài.
 * Phương pháp quan sát.
 Quan sát việc giao tiếp với trẻ mẫu giáo của giáo viên.
 Quan sát trẻ hoạt động ở mọi lúc, mọi nơi.
 * Phương pháp trò chuyện.
 * Phương pháp tổng kết, đúc rút kinh nghiệm.
 2.5. Đối tượng nghiên cứu, khách thể nghiên cứu, phạm vi nghiên 
cứu
 * Đối tượng nghiên cứu
 Nghiên cứu biện pháp phát triển khả năng giao tiếp có văn hóa thông 
qua giáo dục kỹ năng sống cho trẻ lớp mẫu giáo 3- 4 tuổi 
 * Khách thể nghiên cứu.
 Nghiên cứu trẻ 3 - 4 tuổi.
 * Phạm vi nghiên cứu
 Trẻ 3 - 4 tuổi 
 2. NỘI DUNG.
 2.1. Cơ sở lý luận.
 2.2. Thực trạng:
 2.2.1.Thuận lợi:
 Được sự quan tâm giúp đỡ của nhà trường tạo điều kiện cho Tôi tham 
gia dự giờ thao giảng ở các lớp trong trường.
 Giáo viên trẻ tuổi, nhiệt tình yêu nghề mến trẻ. Và bản thân Tôi được 
giao nhiệm vụ là giáo viên chủ nhiệm lớp. 
 4 Trường tổ chức lớp học bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên, giúp đỡ 
cho giáo viên nắm vững về kiến thức chuyên môn. Trường còn tạo điều kiện 
cho tôi giao lưu các chuyên đề cùng với trường bạn.
 Lớp học nằm ở trung tâm, địa bàn rộng rãi, thoáng mát. Học sinh hầu 
hết là người kinh. Phụ huynh thường xuyên quan tâm trao đổi việc học tập của 
con em mình với cô giáo.
 Thực hiện chương trình giáo dục Mầm non mới nên giáo viên chủ động 
lựa chọn đề tài phù hợp với lớp đang trực tiếp giảng dạy.
 2.2.2. Khó khăn:
 - Năm học vừa qua, tôi được phân công dạy lớp mẫu giáo nhỡ gồm: 25 
cháu. Trong đó các cháu chưa được học qua lớp nhà trẻ, chưa được học qua 
chương trình giáo dục mầm non nên các cháu còn nhút nhát, chưa mạnh dạn, 
còn nhút nhát, nói chưa sõi còn ngọng nhiều...
 - Trên thực tế hiện trạng giao tiếp của trẻ mầm non những năm gần đây 
chưa thực sự được tốt, có chiều hướng xuống cấp, biểu hiện:
 - Trẻ không chào khách khi có khách đến thăm.
 - Trẻ thiếu tự tin trong giao tiếp, không dám nhìn thẳng vào người đối 
diện để hỏi và trả lời câu hỏi.
 - Trẻ trao đổi to, quát thẳng vào mặt bạn, thậm chí đánh nhau khi không 
thỏa thuận được với bạn. Không biết rủ bạn cùng chơi, không thích chơi cùng 
bạn. Xưng hô với bạn và người lớn chưa phù hợp.
 - Trẻ thiếu kỹ năng giao tiếp với ông bà, bố mẹ và mọi người xung 
quanh.
 Qua tìm hiểu cho thấy nguyên nhân của những hiện trạng trên là do: 
 - Ảnh hưởng của môi trường giáo dục trong gia đình và ngoài xã hội: 
Trẻ chứng kiến những mâu thuẫn, các hành xử của những người trong gia 
đình và những người xung quanh 
 - Sự ít tiếp xúc và gần gũi của những người thân trong gia đình và kể cả 
cô giáo trong trường mầm non.
 - Do gia đình quá nuông chiều trẻ. Cha, mẹ chưa biết cách giáo dục trẻ.
 - Từ chính bản tính của trẻ. Có khi trẻ bị bắt phải phản ứng thiếu tế nhị 
vì phải bảo vệ bản thân.
 5 - Một phần là vì một số giáo viên trong trường mầm non chưa thật sự 
quan tâm và làm gương cho trẻ cũng như chưa chú trọng đến việc giáo dục trẻ 
kỹ năng giao tiếp có văn hoá.
 - Do sự trao đổi, cách xưng hô của các thành viên trong gia đình và nhà 
trường chưa hay: Còn xưng hô “Mày, tao”, “Bà này, bà nọ”, có khi còn cãi 
nhau trước mặt trẻ 
 Trước khi nghiên cứu đề tài này tôi đã khảo sát trẻ đầu năm học tại lớp 
tôi chủ nhiệm nhận thấy một số khó khăn vướng mắc trong khi rèn luyện kỹ 
năng giao tiếp có văn hoá cho trẻ như sau: 
 Trẻ chưa mạnh dạn, tự tin giao tiếp trong các hoạt động với người thân 
và với người lạ. Trẻ bị ảnh hưởng của môi trường giáo dục trong gia đình và 
ngoài xã hội: Trẻ chứng kiến những mâu thuẫn, cách ứng xử của người thân 
trong gia đình và những người xung quanh.
 Một số trẻ ít tiếp xúc và gần gũi với người thân trong gia đình và kể cả 
cô giáo trong trường mầm non.
 Về phía các bậc cha mẹ trẻ luôn nóng vội trong việc dạy con. Do đó khi 
trẻ về nhà mà chưa biết đọc, viết chữ, hoặc chưa biết làm toán thì lo lắng một 
cách thái quá. Đồng thời lại chiều chuộng con cái khiến trẻ không có kỹ năng 
giao tiếp có văn hóa.
 Từ thực trạng trên tôi khảo sát thực tế đầu năm học về khả năng giao 
tiếp có văn hóa trên 25 cháu lớp tôi phụ trách như sau:
 Nội dung Tỷ lệ
Trẻ biết chào hỏi lễ phép. 50%
Trẻ mạnh dạn, tự tin trong giao tiếp. 47%
Giao tiếp lễ phép với người lớn, thân mật với bạn bè, em 50%
nhỏ.
Thói quen cư xử nói năng lịch sự và đúng mực. 55%
Trẻ biết tôn trọng ý kiến của người khác và biết lắng 47%
nghe khi người khác nói.
Trẻ nói thành câu hoàn chỉnh, không nói trống không. 41%
Trẻ diễn đạt gắn với tình huống giao tiếp phù hợp. 56%
 Từ những vấn đề trên, việc tìm ra giải pháp tốt nhất để phát triển khả 
năng giao tiếp có văn hoá cho trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi một cách chính xác, bền 
 6 vững khắc phục những khó khăn của địa phương, phát huy tính tích cực chủ 
động của trẻ là thiết thực, là cấp bách và cũng là quan trọng trong thực tế hiện 
nay.
 2.3. Các biện pháp
 Để có một môi trường văn hóa học đường lành mạnh chúng ta cần phải 
kết hợp cả 3 phía: Gia đình - Nhà trường và xã hội. Trong đó cô giáo mầm 
non đóng vai trò hết sức quan trọng, là tấm gương cho trẻ noi theo. Hơn thế 
nữa, chúng ta cần phải biết giáo dục hành vi trong giao tiếp cho trẻ thường 
xuyên được lặp lại và liên tục thì trẻ mới khắc sâu, hình thành thói quen tốt 
cho trẻ. Chính vì vậy mà trong quá trình giao tiếp với những người xung 
quanh như: bạn đồng nghiệp, phụ huynh, trẻ Cô giáo cần phải khéo léo. Sự 
khéo léo, ứng xử của người thầy - Nhà sư phạm trong giao tiếp là điều cần 
thiết để xây dựng các mối quan hệ giáo dục và giảng dạy tốt. Điều đó có ý 
nghĩa rất lớn trong việc tạo dựng môi trường sư phạm lành mạnh có tác động 
tích cực tới trẻ.
 Qua nghiên cứu để giúp trẻ phát triển khả năng giao tiếp có văn hoá 
thông qua giáo dục kỹ năng sống cho trẻ tôi đã thực hiện một số biện pháp cụ 
thể như sau:
 2.3.1. Biện pháp 1: Giáo viên luôn gương mẫu, chuẩn mực trong 
giao tiếp
 Giáo viên mầm non là người mẹ thứ hai của trẻ. Việc làm và hành vi 
của giáo viên tác động trực tiếp đến nhận thức của trẻ. Trẻ bắt chước theo 
từng lời nói, hành động của cô giáo nên khi nói và làm người giáo viên phải 
hết sức chú ý để tránh làm gương xấu cho trẻ. Tất cả những gì trẻ thấy sẽ được 
tái hiện lại qua lời nói cũng như hành động của trẻ. Việc làm tốt cũng như 
gương sáng của giáo viên sẽ để lại những dấu ấn đầu tiên trên đường đời của 
trẻ.
 Không chỉ đối với trẻ mà còn thể hiện qua giao tiếp với đồng nghiệp, 
với phụ huynh thì tác phong và lời nói, cử chỉ của người giáo viên cũng làm 
trẻ bắt chước.
 Ví dụ: Giáo viên yêu thương, chăm sóc trẻ tốt, lời nói dịu dàng thì trẻ 
cũng sẽ học và tái hiện lại hành động yêu thương, chăm sóc đối với người 
thân của trẻ. Ngược lại, nếu giáo viên ngôn phong không chuẩn, những thái 
độ, hành vi nóng nảy, lời nói bất nhã trong giao tiếp với những người xung 
quanh thì trẻ cũng sẽ học và áp dụng những lời nói tiêu cực ấy.
 7 Vì vậy giáo viên cần luôn gương mẫu, chuẩn mực trong lúc giao tiếp. 
Khi giao tiếp luôn niềm nở, lịch thiệp, khi đến trường chào hỏi đồng nghiệp, 
phụ huynh học sinh, có cách xưng hô phù hợp với mọi người. Đối với trẻ 
không to tiếng quát tháo, xưng hô dịu dàng bằng cô và con, khi giao tiếp với 
trẻ luôn tôn trọng lời nói của trẻ, lắng nghe ý kiến của trẻ. Giờ đón trả trẻ luôn 
ân cần dịu dàng thương yêu trẻ, khiêm tốn lịch sự trong giao tiếp với phụ 
huynh.
 Do đó gương sáng của giáo viên ảnh hưởng không nhỏ trong việc hình 
thành thói quen nơi trẻ nên mỗi giáo viên cần quan tâm đến việc rèn luyện bản 
thân để cô giáo thực sự là tấm gương sáng cho trẻ noi theo.
 Đối với lứa tuổi mầm non còn trong giai đoạn hình thành nhân cách. Vì 
vậy, muốn hình thành cho trẻ những thói quen, hành vi giao tiếp có văn hóa, 
đòi hỏi giáo viên phải thật kiên nhẫn mới rèn được cho trẻ như Bác Hồ đã dạy 
giáo viên mầm non chúng ta: “Làm mẫu giáo tức là thay mẹ dạy trẻ. Muốn 
làm được thế thì trước hết phải yêu trẻ. Các cháu nhỏ hay quấy, phải bền bỉ, 
chịu khó mới nuôi dạy được các cháu. Dạy trẻ cũng giống như trồng cây non. 
Trồng cây non được tốt thì sau này cây lên tốt. Dạy trẻ nhỏ tốt thì sau này các 
cháu thành người tốt. Công tác giáo viên và mẫu giáo có khác nhau, nhưng 
cùng chung một mục đích là đào tạo những người công dân tốt, cán bộ tốt cho 
Đất nước. Điều trước tiên là dạy các cháu về đạo đức. Giáo viên mầm non 
cần luôn luôn gương mẫu về đạo đức để các cháu noi theo”.
 2.3.2. Biện pháp 2: Giáo viên luôn là người bạn thân của trẻ
 Để hình thành thói quen giao tiếp có văn hóa cho trẻ người giáo viên 
còn phải là người bạn đáng tin cậy của trẻ, giúp trẻ trải lòng ra mà bộc lộ 
những suy nghĩ, cảm xúc, qua đó giáo viên có thể điều chỉnh những biện pháp 
giáo dục cho phù hợp.
 Ví dụ: Khi tôi tạo được sự gần gũi với trẻ, trẻ kể với tôi rằng: “Cô ơi! 
Cạnh nhà con có một bạn ở bẩn lắm, vì nhà bạn đó nghèo không có tiền mua 
quần áo mặc, nên bạn mặc mãi một hai bộ thôi. Bạn hôi quá nên mỗi lần qua 
nhà con chơi là con lại đuổi bạn ấy về”. Nghe vậy tôi đã giải thích cho trẻ 
hiểu: “Bạn ấy chỉ vì nhà nghèo nên mới thế, nếu con cũng ở hoàn cảnh như 
bạn và bị bạn bè xua đuổi thì con sẽ cảm thấy như thế nào? Sẽ buồn và tủi 
thân. Bởi vậy, từ nay con đừng đuổi bạn nữa nhé. Nếu con có quần áo cũ nào 
đó mà con không mặc nữa con hãy xin phép bố mẹ đem tặng bạn để bạn có 
 8 thêm những bộ đồ thay đổi hàng ngày. Như vậy bạn sẽ rất vui và biết ơn con 
và ngược lại con có thêm một người bạn mới và con đã làm được một việc 
tốt”. 
 Đó chính là hiệu quả của việc gần gũi trẻ đúng lúc, đúng chỗ và hình 
thành cho trẻ thói quen tốt. Vì thế tạo mối quan hệ tốt với trẻ là một điều rất 
quan trọng trong việc giáo dục văn hóa giao tiếp cho trẻ, hình thành những bài 
học đạo đức văn hoá đầu đời cho trẻ.
 Cô luôn gần gũi trẻ, tạo cho trẻ niềm tin tưởng để chia sẻ niềm vui nỗi 
buồn. Cô giáo phải đặt mình vào vị trí hoàn cảnh của trẻ để tiếp xúc, để cùng 
rung cảm, cùng suy nghĩ với trẻ. Biết sống trong niềm vui nỗi buồn của trẻ; 
phải yêu thương và đồng cảm với trẻ. Ứng xử khéo léo trong các tình huống 
giao tiếp cụ thể đối với trẻ. Luôn quan tâm tới trẻ, biết mỉm cười khi tiếp xúc 
với trẻ. Giọng nói của cô biểu hiện một thái độ thiện cảm, nhẹ nhàng, dịu 
hiền, ôn tồn ngay cả lúc kiên quyết, dứt khoát. Sau mỗi lần tiếp xúc nên tạo 
cho trẻ những niềm vui mới, không nên gây căng thẳng trong tâm trí trẻ. Luôn 
tạo cho trẻ một cảm giác an toàn, dễ chịu trong suốt quá trình giao tiếp. Nếu 
phải nghe một trẻ tâm sự, hãy cố gắng khuyến khích để trẻ nói hết tâm tư 
nguyện vọng của mình. Cô thường xuyên trò chuyện với trẻ về những mong 
muốn của trẻ qua đó giáo dục trẻ thói quen giao tiếp có văn hoá. Giáo viên nói 
chuyện với trẻ một cách tự nhiên và cởi mở về những mong muốn của trẻ. 
Bên cạnh đó đặt ra những giới hạn và hướng trẻ tin rằng việc tuân theo các 
giới hạn đó là tốt cho bản thân trẻ. Tuy nhiên tôi không làm điều đó một cách 
áp đặt, tôi luôn để trẻ nghĩ rằng: Cô giáo là một người bạn lớn, đáng tin cậy 
của trẻ.
 Trẻ mầm non rất thích đươc khen ngợi động viên khích lệ, muốn được 
quan tâm trò chuyện với cô giáo, nên cô cần tranh thủ lựa chọn thời cơ tạo 
tình huống để giao tiếp với trẻ. Chính vì vậy giáo viên phải là người bạn thân 
của trẻ, hoà đồng cùng trẻ trong mọi hoạt động, luôn tin tưởng vào trẻ, vỗ về 
yêu thương tôn trọng trẻ thì khả năng giao tiếp của trẻ sẽ phát triển tốt.
 2.3.3. Biện pháp 3: Lồng ghép các nội dung giáo dục thói quen giao 
tiếp có văn hoá cho trẻ ở mọi lúc mọi nơi thông qua các hoạt động của trẻ 
tại trường mầm non
 Việc lồng ghép các nội dung để phát triển khả năng giao tiếp có văn hoá 
cho trẻ vào các hoạt động tại trường mầm non có nhiều ưu thế. Nhằm hình 
thành cho trẻ những thói quen hành vi giao tiếp có văn hoá (Trẻ biết chào hỏi 
 9 lễ phép, nói lời cảm ơn xin lỗi phù hợp với tình huống, biết chú ý nghe cô 
nghe các bạn nói, biết trao đổi thoả thuận với bạn để cùng thực hiện hoạt động 
chung ) có thể tích hợp lồng ghép giáo duc trẻ thói quen giao tiếp có văn hoá 
trong các hoạt động cụ thể như sau:
 * Trong giờ đón trẻ và trả trẻ
 Khi phụ huynh đưa đón trẻ, cô chủ động chào phụ huynh, đồng thời 
nhắc nhở trẻ chào tạm biệt người thân khi chia tay. Trong lúc đón hay trả trẻ 
cô trò chuyện với trẻ, cô chú ý đặt câu hỏi cho trẻ phải đủ từ đủ ý, làm khuôn 
mẫu cho câu trả lời của trẻ. Khi trẻ trả lời cô giáo dục trẻ nói cho đủ câu, biết 
lễ phép thưa gửi trước khi nói với người lớn.
 * Trong giờ hoạt động học có chủ đích
 Trong các giờ hoạt động học, giáo viên luôn là người tạo cơ hội, quan 
tâm tới từng cá nhân trẻ, tích cực cho trẻ phát biểu ý kiến, đặt ra nhiều câu 
hỏi, tạo ra nhiều tình huống để trẻ giao tiếp. 
 Mỗi trẻ khi đến trường đều thích được học, được vui chơi. Trong các 
hoạt động của trẻ ở trường thì hoạt động có chủ đích giữ vai trò quan trọng, 
bởi vì thông qua giờ học của trẻ tại lớp người giáo viên phải bao quát và quan 
sát trẻ, ghi nhận lại những hành vi giao tiếp của trẻ, những thái độ của trẻ đối 
với môi trường xung quanh, với bạn bè, cô giáo trong lớp. Trong giờ học cô 
giáo dạy trẻ, cung cấp kiến thức cho trẻ biết sau đó cô trò chuyện, đàm thoại, 
đặt hệ thống các câu hỏi nhằm giúp trẻ phát huy khả năng tư duy, sáng tạo và 
đặc biệt là thông qua hoạt động học giáo viên ghi nhận lại khả năng giao tiếp 
của trẻ. Tìm hiểu xem trẻ có biết thể hiện những lời nói có văn hóa hay những 
hành vi ứng xử có văn hóa thông qua giờ học hay không. Cách trả lời của trẻ 
có biết dạ thưa hay nói chống không, nói leo khi cô hỏi hay không. Từ đó cô 
có biện pháp uốn nắn trẻ kịp thời.
 Với trẻ mẫu giáo thì những lời thơ, câu hát, truyện kể được xem như 
chiếc nôi thứ hai của trẻ. Trẻ đi vào thế giới của cảm xúc, ước mơ, thế giới 
thần tiên. Chính thế giới ấy sẽ hình thành ở trẻ những cảm xúc tình cảm thật 
dạt dào. Trẻ vui buồn với những nhân vật trong lời thơ, truyện kể và học hỏi 
rất nhiều từ những hành động, lời nói giao tiếp văn hóa của các nhân vật ấy. 
Giúp trẻ phân biệt được các hành vi đúng sai, tốt xấu từ những nhân vật 
trong tác phẩm.
 10 Chính những hành vi của các nhân vật sẽ ghi dấu ấn trong tâm hồn trẻ, 
trẻ sẽ sống mãi với nhân vật của mình. Qua đó giúp trẻ nhớ và hình thành 
những điều hay, lẽ phải.
 Ví dụ: Trong hoạt động văn học, qua dạy bài thơ “Em lên bốn”, cô đàm 
thoại cùng trẻ: Bạn nhỏ trong bài thơ làm được những điều gì khi lên bốn? 
Con đã làm được những gì? Tại sao con phải làm như vậy? Qua đó giáo dục 
trẻ biết vâng lời ông bà bố mẹ, không khóc nhè, không vòi quấy bố mẹ.
 Không gì hay hơn những câu chuyện, lời thơ, bài hát. Trẻ sẽ được khắc 
ghi rất sâu và rất khó quên.
 Ví dụ: Khi giáo dục trẻ thói quen chào hỏi khi đi học về. Nếu dạy trẻ, 
con phải thế này hay thế nọ thì trẻ sẽ rất khó nhớ và thậm chí không thực hiện. 
Nhưng khi tôi dạy trẻ bài hát “Mẹ yêu không nào” thông qua những hình ảnh 
rất gần gũi với tuổi thơ là chú cò dễ thương để qua đó dạy trẻ bài học khi đi bé 
biết xin phép, khi về bé biết chào, điều đó khiến mẹ vui thêm yêu bé nhiều 
hơn và bài học đó trẻ sẽ dễ nhớ hơn, thực hiện hiệu quả hơn.
 Ví dụ: trong hoạt động tạo hình “Vẽ hoa tặng mẹ”, giáo viên trò chuyện 
với trẻ: Con vẽ hoa tặng ai? Con hãy kể về mẹ của mình? Con làm gì để mẹ 
vui? Qua đó hình thành cho trẻ biết quan tâm chia sẻ với mọi người trong gia 
đình, biết tạo ra nhiều niềm vui nho nhỏ cho người thân, đồng thời thúc đẩy 
cho ngôn ngữ giao tiếp của trẻ phát triển.
 Như vậy để giúp trẻ phát triển khả năng giao tiếp có văn hoá giáo viên 
có thể lồng ghép tích hợp vào tất cả các hoạt động học có chủ đích của trẻ như 
hoạt động âm nhạc, hoạt động văn học, hoạt động tạo hình, hoạt động khám 
phá khoa học – xã hội Trong các giờ hoạt động học có chủ đích cô chú ý rèn 
những trẻ còn nhút nhát trong giao tiếp và sợ đám đông, cô khuyến khích trẻ 
lên thể hiện trước lớp. Qua đó vừa rèn cho trẻ tinh thần thi đua trong học tập 
vừa rèn kỹ năng giao tiếp cho trẻ. Tóm lại trong tất cả các hoạt động học tập 
rất cần sự mạnh dạn tự tin trong giao tiếp của trẻ, từ đó giúp cho trẻ phát triển 
tư duy và tự tin học bài.
 * Trong hoạt động vui chơi 
 Bên cạnh hoạt động học có chủ đích thì hoạt động vui chơi ở các góc 
luôn giữ một vai trò chủ đạo, vì thông qua hoạt động vui chơi ở các góc, giáo 
viên biết cần phải cho trẻ chơi cái gì, chơi như thế nào để đem lại kiến thức 
phục vụ cho hoạt động học. Các kỹ năng: Tư duy, thể chất, tình cảm xã hội và 
ngôn ngữ của trẻ, cũng như hiểu biết kiến thức về thế giới xung quanh của trẻ 
 11 phát triển. Một điều rất quan trọng là thông qua hoạt động góc người giáo viên 
hướng dẫn trẻ đến với việc giao tiếp giữa các bạn trong góc chơi, giao tiếp 
như thế nào là có văn hóa (Biết xưng tên, gọi bạn, trao đổi nhẹ nhàng lịch sự 
với bạn ) Muốn trẻ phát triển tốt thì cô giáo phải là người thể hiện tốt nhiệm 
vụ của mình, luôn linh động, sáng tạo, giúp trẻ thông qua “Chơi bằng học, học 
mà chơi”. Chính trong quá trình hoạt động góc tại lớp giáo viên mới quan sát, 
ghi nhận được những thái độ, hành vi chơi của trẻ, không phải đứa trẻ nào 
cũng chơi ngoan, chơi tốt và có sự hợp tác với bạn khi chơi. Như vậy đòi hỏi 
giáo viên cần phải tổ chức hoạt động vui chơi sáng tạo thường xuyên để có thể 
rèn luyện cho trẻ một số kỹ năng giao tiếp trong giờ chơi.
 Ví dụ: Qua góc chơi phân vai với trò chơi bán hàng, cô hướng dẫn gợi 
mở cho trẻ đóng vai người bán hàng con phải làm những công việc gì? Giao 
tiếp với khách như thế nào? Mời chào đón khách ra sao? Còn người mua hàng 
thì làm gì? Khi chủ cửa hàng đưa đồ cho phải nói thế nào?... Khi chơi trẻ được 
giao tiếp nhiều cách khác nhau, qua đó rèn cho trẻ kỹ năng giao tiếp (Chào 
hỏi, cảm ơn, thể hiện yêu cầu bằng lời nói). 
 Hay khi trẻ chơi bác sỹ trẻ biết giao tiếp thể hiện sự ân cần giữa bác sỹ 
và bệnh nhân. Trẻ chơi ở góc xây dựng biết thoả thuận vai chơi, trao đổi công 
việc của người kỹ sư với công nhân xây dựng 
 Trong khi vui chơi trẻ đươc giao tiếp thoải mái với các bạn. Trẻ được 
hoá thân vào những người gần gũi xung quanh trẻ như: ông bà, bố mẹ, bác sỹ, 
công an, người bán hàng Cô luôn gần gũi cởi mở với trẻ uốn nắn cho trẻ 
từng câu nói, cử chỉ.
 Như vậy trò chơi là một hình thức giao tiếp. Trò chơi tạo cơ hội để trẻ 
tham gia vào các mối quan hệ giao tiếp bạn bè, phát triển tốt các năng lực giao 
tiếp. Trò chơi đồng thời là một phương tiện (Một con đường) mà thông qua đó 
trẻ có thể giao tiếp với nhau một cách dễ dàng. Giáo dục thông qua trò chơi là 
phương pháp hiệu quả nhất với trẻ mầm non.
 * Trong hoạt động ngoài trời
 Thông qua hoạt động ngoài trời mà trẻ được chơi, được giao tiếp, được 
học hỏi và khám phá thế giới xung quanh một cách hứng thú và tích cực. Vì 
thế nên giáo viên cần dạy cho trẻ biết được nhiều kỹ năng sống cho trẻ trong 
vui chơi ngoài trời như: “Khi chơi với bạn không gây gổ, không xô đẩy bạn 
khi chơi, biết chia sẻ và nhường nhịn bạn khi chơi, biết chăm sóc cây, lau lá 
 12 cây, nhặt lá vàng úa trên cây (Chỉ số 39: Thích chăm sóc cây cối nằm 
trong chuẩn 9 trẻ biết cảm nhận và thể hiện cảm xúc).
 Điều này sẽ tạo thành một thói quen tốt cho trẻ, hoạt động ngoài trời 
còn giúp trẻ mạnh dạn, tự tin vui chơi năng động và phát triển ngôn ngữ, khả 
năng giao tiếp với cô và bạn khi chơi. Bên cạnh đó, chúng ta còn giáo dục 
được kỹ năng chào hỏi cô giáo và người lạ khi trẻ gặp. Trong hoạt động ngoài 
trời trẻ được thảo luận với bạn bè, quan sát và trò chuyện cùng cô và các bạn. 
Tổ chức cho trẻ hoạt động ngoài trời giúp trẻ lĩnh hội được ý nghĩa thế giới 
xung quanh và phát triển kỹ năng giao tiếp nhanh.
 * Trong giờ ăn trưa
 Cô giáo dục trẻ trước và sau khi ăn biết mời, xin phép mọi người từ 
người lớn đến người nhỏ tuổi. Khi ăn từ tốn, lịch sự, không vừa ăn vừa nói 
chuyện hay cười đùa trong lúc ăn uống. Thông qua giờ ăn cô giúp trẻ biết học 
ăn học nói, học mời chào thế nào cho có văn hoá.
 * Trong giờ vệ sinh cá nhân, giờ chơi tự do
 Hoạt động hàng ngày không thể thiếu giờ hoạt động chơi tự do và vệ 
sinh cá nhân của trẻ. Những lúc này trẻ được tự do trò chuyện tiếp xúc với 
nhau. Cô giáo là người lắng nghe và tạo tình huống để trẻ được thoải mái giao 
tiếp nhiều hơn. Cô luôn khuyến khích động viên trẻ để trẻ nói ra những ngôn 
ngữ mạch lạc thể hiện sự văn hoá trong giao tiếp.
 Tóm lại, thông qua các hoạt động hàng ngày của trẻ tại trường mầm 
non cô nên quan tâm thường xuyên để ý giúp cho trẻ phát biểu những gì mà 
trẻ biết và biết đề nghị những gì trẻ muốn. Từ đó giúp cho trẻ mạnh dạn tự tin 
hơn trong giao tiếp với mọi người xung quanh, có hành vi và kỹ năng giao 
tiếp đúng chuẩn mực và đạt theo độ tuổi.
 2.3.4. Biện pháp 4: Tìm hiểu đặc điểm tâm sinh lý của từng trẻ
 Ngôn ngữ của trẻ 3-4 tuổi mang tính chất hoàn cảnh, tình huống nghĩa 
là ngôn ngữ của trẻ gắn liền với sự vật hoàn cảnh, con người hiện tượng đang 
xảy ra trước mắt trẻ. Cuối 3 tuổi ngôn ngữ của trẻ bắt đầu biết nối kết giữa 
tình huống hiện tại với quá khứ thành một văn cảnh. Ở trẻ đã hình thành 
những cảm xúc ngôn ngữ qua giọng nói, ngữ điệu, âm tiết. Dưới sự hướng dẫn 
của người lớn, đặc biệt trong hoạt động vui chơi, hoạt động học có chủ đích 
và các nhiệm vụ người lớn giao cho trẻ. Trẻ lĩnh hội được nhiều từ mới và ý 
nghĩa sử dụng chúng, là tiền đề quan trọng giúp trẻ hoạt động sau này.
 13 Qua quá trình giảng dạy chăm sóc giáo dục trẻ cũng một phần nào giúp 
chúng ta nắm được đặc điểm tâm sinh lý của từng trẻ, ứng với mỗi trẻ có 
những biện pháp giáo dục khác nhau.
 Ví dụ: Trẻ A hay chửi bạn, nhưng tôi biết trẻ này rất thích được nói 
chuyện với cô, thích được cô quan tâm và trẻ biết phân biệt đúng sai. Dựa vào 
điều kiện ấy tôi sẽ phân tích cho trẻ hiểu điều đó không đúng và không được 
làm, nếu con còn hay chửi bạn nữa và nói chuyện xưng mày - tao với bạn nữa 
thì cô sẽ không vui. Còn nếu con biết thương bạn, đoàn kết giúp bạn thì cô và 
các bạn cũng rất thương con và thích chơi với con. Từ đó trẻ bỏ dần thói quen 
chửi bạn ngược lại trẻ biết yêu thương và chia sẻ với bạn.
 Việc nắm bắt đặc điểm tâm sinh lý mỗi trẻ sẽ giúp chúng ta khắc phục 
và kịp thời uốn nắn trẻ hiệu quả hơn. Chúng ta cần hạn chế la mắng trẻ. Khi 
trẻ phạm lỗi trước hết cần tìm hiểu nguyên nhân vì sao trẻ làm điều đó. Khi 
biết rõ nguyên nhân ta nên kết hợp với cá tính mỗi trẻ để giáo dục trẻ, dạy trẻ 
biết cách giao tiếp ứng xử, và những hành vi sao cho có văn hóa.
 2.3.5. Biện pháp 5: Tuyên truyền, phối hợp với phụ huynh
 Thành công trong công tác giáo dục trẻ nói chung và hình thành hành vi 
giao tiếp có văn hóa cho trẻ nói riêng không thể thiếu sự hỗ trợ, phối hợp với 
phụ huynh. Bởi cái nôi nuôi dưỡng trẻ chính là gia đình.
 Người giáo viên cần trao đổi với phụ huynh giúp phụ huynh hiểu được 
tầm quan trọng trong việc hình thành hành vi giao tiếp có văn hóa cho trẻ để 
có sự phối hợp nhịp nhàng, thống nhất giữa giáo viên và phụ huynh tạo ra một 
lực đẩy mạnh và khoa học giúp trẻ phát triển toàn diện về nhân cách.Vì thế 
nên ngay trong buổi họp phụ huynh đầu năm tôi mạnh dạn trao đổi với phụ 
huynh về tầm quan trọng của giao tiếp có văn hoá đối với trẻ mầm non. Nhất 
là trong thời kỳ hội nhập của nước ta hiện nay tiếp nhận nhiều nền văn hoá và 
trò chơi giải trí đã ảnh hưởng không nhỏ đến hành vi văn minh của trẻ. Qua 
buổi họp phụ huynh hay những buổi truyền thông tôi luôn phổ biến và tuyên 
truyền cách nuôi dạy con theo khoa học và cách giáo dục trẻ giao tiếp có văn 
hoá khi ở nhà. Thường xuyên trao đổi trực tiếp với phụ huynh hàng ngày 
trong giờ đón, trả trẻ. Thông báo nhanh với phụ huynh về tình hình của trẻ 
trong ngày, lắng nghe phụ huynh trao đổi về một số đăc điểm của trẻ. Từ đó 
giúp các thành viên trong gia đình trẻ quan tâm tới trẻ nhiều hơn trong cách 
giao tiếp hàng ngày. Việc giáo viên tích cực giao lưu với phụ huynh vào giờ 
 14 đón, trả trẻ giúp giáo viên dễ dàng nắm bắt tình hình của trẻ, hiểu được tính 
cách hoàn cảnh sống của trẻ, từ đó đề ra các biện pháp giáo dục phù hợp.
 Thông qua việc dán bảng tin tuyên truyền những bài học lễ giáo, hành 
vi văn minh nơi công cộng, cách giao tiếp ứng xử có văn hoá đối với trẻ để 
phụ huynh tham khảo và tích lũy kinh nghiệm.
 Phối hợp với phụ huynh trong việc giúp trẻ tự phục vụ bản thân tại gia 
đình, động viên phụ huynh không làm thay trẻ, tránh hình thành ở trẻ tính ỷ 
lại, nhút nhát, đồng thời quan tâm đến môi trường, những người trẻ thường 
xuyên tiếp xúc tại nhà để trẻ không tiếp thu những lời nói, hành vi thiếu văn 
hoá.
 Ví dụ: Dạy trẻ có thói quen chào khách, chào ông bà, cha mẹ, người lớn 
khi đi cũng như khi về nhà. Có những trẻ khi đến lớp chưa mạnh dạn chào cô, 
chào bố mẹ, thường xuyên phải nhắc nhở trẻ vẫn chưa thực sự mạnh dạn, 
chưa có thói quen nề nếp và kỹ năng trong việc chào hỏi. Vì vậy giáo viên cần 
phối hợp với phụ huynh để giúp trẻ dần dần mạnh dạn tự tin có thói quen chào 
hỏi mọi người lễ phép.
 Trao đổi với phụ huynh về cách ứng xử của các thành viên trong gia 
đình, về nề nếp, thói quen giao tiếp để trẻ học cách giao tiếp, cách ứng xử 
trong gia đình. Tránh cư xử bạo hành giữa các thành viên trong gia đình. Điều 
đó sẽ để lại những vết thương tâm lý trong lòng trẻ mà khó có thể lành được.
 Ví dụ: Cha mẹ không bạo hành với nhau, không nói những lời lẽ không 
hay trước mặt trẻ, hoặc khi có lỗi phải biết nhận lỗi với trẻ Qua đó sẽ làm 
cho trẻ mạnh dạn nhận lỗi và sửa sai trong cuộc sống hằng ngày.
 Kết hợp với phụ huynh quan sát những biểu hiện của trẻ trong các điều 
kiện và tình huống tự nhiên hàng ngày như quan sát xem trẻ có tự tin khi giao 
tiếp với mọi người hay không. Trẻ có lễ phép trong cách nói năng với người 
lớn hay không. Để từ đó có biện pháp rèn luyện và giáo dục thêm. Với những 
trẻ mạnh dạn tự tin trong giao tiếp cô trao đổi với phụ huynh khuyến khích trẻ 
ngày càng phát huy ngôn ngữ để trẻ giao tiếp có văn hoá với mọi người, còn 
những trẻ nhút nhát cô kết hợp với phụ huynh động viên, tạo ra nhiều tình 
huống giao tiếp để giúp trẻ mạnh dạn tự tin hơn trong giao tiếp.
 Nhờ có sự phối kết hợp chặt chẽ giữa giáo viên với cha mẹ trẻ mà tôi 
thấy lớp tôi mạnh dạn tự tin hơn và hầu hết trẻ đã có những kỹ năng giao tiếp 
lịch sự thể hiện sự văn hoá trong giao tiếp. 
 15 Tóm lại muốn giáo dục hành vi giao tiếp có văn hóa cho trẻ mầm non 
thì không thể nói suông mà phải thông qua những hành động cụ thể, những 
tấm gương sáng của giáo viên, của người lớn, qua tình huống cụ thể trong đời 
sống hàng ngày, qua những câu chuyện, lời thơ, bài hát. Đó chính là những lời 
dạy bảo sống động khó quên trong lòng trẻ. Giáo viên phải luôn luôn động 
viên trẻ bằng tình cảm yêu thương, sẵn sàng hết lòng vì trẻ. Sự gần gũi yêu 
thương của cô chính là nguồn khích lệ cho trẻ phấn đấu và rèn luyện. Nắm 
được khả năng, đặc điểm tâm lí của từng trẻ để có hướng rèn luyện cho phù 
hợp và phải kết hợp giáo dục trẻ ở mọi lúc mợi nơi.
 2.4. Hiệuquả của sáng kiến.
 * Kết quả
 Qua một năm áp dụng các giải pháp trên vào trẻ ở lớp tôi, sau khi khảo 
sát tôi thấy kết quả đạt được ở trẻ có chuyển biến rõ dệt như sau:
 Nội dung Trước khi Sau khi áp 
 áp dụng dụng các 
 các giải giải pháp
 pháp
Trẻ biết chào hỏi lễ phép. 50% 100%
Trẻ mạnh dạn, tự tin trong giao tiếp. 47% 94%
Giao tiếp lễ phép với người lớn, thân mật với 50% 97%
bạn bè, em nhỏ.
Thói quen cư xử nói năng lịch sự và đúng 55% 100%
mực.
Trẻ biết tôn trọng ý kiến của người khác và 47% 97%
biết lắng nghe khi người khác nói.
Trẻ nói thành câu hoàn chỉnh, không nói trống 41% 94%
không
Trẻ diễn đạt gắn với tình huống giao tiếp phù 56% 97%
hợp
 Kết quả thực hiện một số giải pháp phát triển khả năng giao tiếp có văn 
hóa cho trẻ 3-4 tuổi thể hiện ở các mức độ khác nhau theo các tiêu chí sau: 
Trẻ sử dụng từ và ghép thành câu nói hoàn chỉnh; khả năng diễn đạt từ gắn 
với tình huống giao tiếp; khả năng giao tiếp có văn hóa thông qua kỹ năng 
sống.
 16 Với kết quả trên cũng chưa thật sự cao nhưng cũng góp một phần nhỏ 
trong việt nâng cao khả năng giao tiếp có văn hóa cho trẻ 3-4 tuổi nói riêng và 
nhà trường nói chung. Hơn nữa phụ huynh rất khen ngợi khi thấy trẻ về nhà 
biết chào hỏi lễ phép, nói được nhiều và đủ câu... Phụ huynh thấy được tầm 
quan trọng của việc đưa trẻ đến trường mầm non để trẻ được phát triển toàn 
diện về “Đức - trí - thể - mỹ”.
 * Ứng dụng:
Qua việc áp dụng các biện pháp trên vào lớp của mình và đạt được những kết 
quả đáng phấn khởi, tạo cho trẻ húng thú, tự tin khi giao tiếp với mọi người, 
niềm say mê với cáchoạt động. Tôi đã mạnh dạn trình bày những biện pháp 
của lớp mình trước bạn bè đồng nghiệp, tổ chuyên để cùng trao đổi, rút kinh 
nghiệm và được đồng nghiệp hưởng ứng và vận dụng vào lớp của mình. Từ 
những kết quả đạt được trong năm học vừa qua tôi nhận thấy những biện pháp 
trên có thể áp dụng tại Trường Mầm non và trong tất cả các trường mầm non 
trong Tỉnh Bắc Giang.
 3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ:
 3.1. Kết luận.
 Sáng kiến kinh nghiệm này có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với công tác 
chăm sóc giáo dục trẻ, đặc biệt là giúp việc phát triển ngôn ngữ giao tiếp có 
văn hoá cho trẻ. Để giúp trẻ phát triển tốt về giao tiếp, cô luôn quan tâm tới 
trẻ, rèn trẻ ở mọi lúc mọi nơi, nên cô đã kịp thời uốn nắn và sửa sai ngay cho 
trẻ, giúp trẻ giao tiếp và ứng xử phù hợp với tình huống.
 Giúp trẻ tự tin, hứng thú tích cực trong các hoạt động giao tiếp hàng 
ngày. Tạo cho trẻ có vốn kinh nghiệm tốt trong cuộc sống, biết giao tiếp ứng 
xử có văn hoá với bạn bè và mọi người xung quanh.
 Giúp bản thân tôi có vốn kinh nghiệm tốt trong công tác chăm sóc giáo 
dục trẻ, đặc biệt là trong việc phát triển ngôn ngữ giao tiếp có văn hoá cho trẻ, 
thường xuyên đổi mới phương pháp và hình thức giáo dục để nâng cao hiệu 
quả chăm sóc giáo dục trẻ.
 - Giúp trẻ biết nói lễ phép...
 - Tạo cho trẻ mạnh dạn hơn khi giao tiếp với mọi người, với bạn bè... 
trẻ hoàn thiện dần.
 17 - Qua thực tế ở lớp, cùng với biện pháp trên dã áp dụng tôi đã rút ra 
cho mình những bài học bổ ích giúp tôi có nhiều kinh nghiệm khi lên lớp..
 + Điều quan trọng đầu tiên đối với trẻ là chuẩn bị trí thức cho trẻ, kết 
hợp với việc soạn gián án đầy đủ, sáng tạo và có thủ thuật lên lớp, lòng nhiệt 
tình say mê nghề nghiệp và phát huy hết khả năng của mình để dẫn dắt gợi 
mở. Cô giáo phải có khả năng gợi mở để hướng dẫn trẻ về kỹ năng một cách 
chính xác hiệu quả và gây hứng thú cho trẻ tham gia hoạt động.
 + Tích hợp lồng ghép kỹ năng giao tiếp của trẻ vào các hoạt động khác 
một cách nhẹ nhàng linh hoạt.
 + Trong quá trình đổi mới phương pháp giáo dục, thường xuyên “lấy trẻ 
làm trung tâm”, cô giáo là người gợi mở dẫn dắt trẻ, kích thích trẻ hứng thú 
tích cực trong các hoạt động giao tiếp hàng ngày. 
 + Để giúp trẻ phát triển tốt về giao tiếp, cô giáo phải là người kiên trì 
không nóng vội trước kết quả của trẻ , mà dẫn dắt bằng cả tấm lòng nhiệt tình, 
sự yêu nghề với vốn kiến thức đã được học.
 + Tạo điều kiện cho trẻ trò chuyện ở mọi lúc mọi nơi, động viên khích 
lệ trẻ tích cực tham gia vào các hoạt động thông qua các hoạt động trẻ được 
giao tiếp với bạn, cô giáo...
 + Để trẻ giao tiếp tốt thì trước hết cô giáo phải thật sự là người bạn lớn 
của trẻ, luôn gần gũi kịp thời lắng nghe ý kiến, giải thích, động viên giúp đỡ 
trẻ khi còn lúng túng, nhút nhát...
 + Cô luôn tham gia đầy đủ các buổi hội giảng, chuyên đề của ngành, 
của trường tổ chức.
 + Quá trình giảng dạy cô phải lắng nghe ý kiến của trẻ, quan tâm đến 
khả năng từng trẻ để có biện pháp bồi dưỡng phù hợp.
 Ngoài chuyên môn cô còn phải thực hiện sự hoà nhập với thế giới của 
trẻ thơ. Cô hiểu và cùng trẻ thể hiện, tạo cho trẻ cảm giác tự tin, thoải mái khi 
trò chuyện ở mọi lúc mọi thật lễ phép.
 * Phạm vi áp dụng của Sáng kiến
 Sáng kiến kinh nghiệm này có thể áp dụng tại Trường Mầm non và 
trong tất cả các trường mầm non trong Tỉnh 
 18 3.2. Kiến nghị . 
 Để thực hiện tốt công tác phát triển khả năng giao tiếp có văn hoá thông 
qua giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mầm non trong giai đoạn hiện nay rất cần 
có sự quan tâm của các cấp lãnh đạo cũng như của địa phương, sự kết hợp 
giữa gia đình, nhà trường. Vì vậy tôi xin có một số kiến nghị như sau:
 * Đối với Sở Giáo dục và Đào tạo 
 Ngành giáo dục mầm non cần nghiên cứu bổ sung đưa vào chương trình 
chăm sóc giáo dục trẻ các nội dung, phương pháp, biện pháp phát triển giáo 
dục hành vi giao tiếp ứng xử có văn hóa cho trẻ, cần bổ xung thêm tài liệu 
hướng dẫn các bài soạn, giờ học định hướng giáo dục hành vi giao tiếp ứng xử 
có văn hóa cho trẻ trong các trường mầm non. 
 * Đối với Phòng Giáo dục và Đào tạo
 Hàng năm cần có sự đầu tư về cơ sở vật chất, trang thiết bị đồ dùng dạy 
học cho các trường mầm non, đặc biệt là các vùng nông thôn. Có như vậy mới 
đáp ứng được yêu cầu đòi hỏi ngành học đề ra, mới nâng cao chất lượng chăm 
sóc giáo dục trẻ.
 Đề nghị tăng cường các lớp tập huấn chuyên đề rèn kỹ năng sống cho 
trẻ đặc biệt là kỹ năng giao tiếp có văn hoá.
 * Đối với Nhà trường 
 Cô giáo cần có lòng nhiệt tình, thương yêu gần gũi trẻ. Luôn là tấm 
gương sáng lịch sự trong giao tiếp để trẻ noi theo.
 Cô giáo cần phát huy, sáng tạo các nội dung để phát triển khả năng giao 
tiếp có văn hóa của trẻ.
 Phối kết hợp chặt chẽ với cha mẹ trẻ trong qúa trình phát triển khả năng 
giao tiếp có văn hóa cho trẻ. 
 Trên đây là một số giải pháp phát triển khả năng giao tiếp có văn hoá 
thông qua giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mẫu giáo nhỡ của tôi chắc sẽ không 
chánh khỏi những hạn chế. Tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của 
các đồng chí, đồng nghiệp trong nhà trường, liên ngành nhằm giúp tôi hoàn 
thiện hơn nữa về phương pháp dạy học trên cũng như tích luỹ thêm nhiều kinh 
nghiệm hay trong công tác chăm sóc giáo dục trẻ của mình. 
 Tôi xin chân thành cảm ơn!
 19 Tài liệu tham khảo
 1. Tâm lý học trẻ em.
 2. Cuốn giúp bé có kỹ năng giao tiếp và ứng xử trong xã hội (Do Vũ 
Thị Ngọc Minh - Nguyễn Thị Nga biên soạn).
 3. Tạp chí giáo dục mầm non.
 4. Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên chu kì 2004-2007.
 5. Module2: Đặc điểm phát triển tình cảm kỹ năng xã hội, mục tiêu và 
kết quả mong đợi ở trẻ mầm non; Module MN39: Giáo dục kỹ năng sống cho 
trẻ.
 6. Cuốn hướng dẫn và rèn kỹ năng sống cho trẻ mầm non – NXB Đại 
Học Quốc Gia Hà Nội.
 7. Chương trình chăm sóc Giáo dục trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi.
 20

File đính kèm:

  • docskkn_mot_so_giai_phap_phat_trien_kha_nang_giao_tiep_co_van_h.doc