SKKN Một số biện pháp nhằm kích thích sử dụng đồ dùng gia đình trong hoạt động góc đối với trẻ mẫu giáo 4 - 5 tuổi lớp B4, Trường Mầm non Trần Nguyên Hãn (GV: Vi Thị Giang)

pdf 13 Trang Vi Ngọc 4
Bạn đang xem tài liệu "SKKN Một số biện pháp nhằm kích thích sử dụng đồ dùng gia đình trong hoạt động góc đối với trẻ mẫu giáo 4 - 5 tuổi lớp B4, Trường Mầm non Trần Nguyên Hãn (GV: Vi Thị Giang)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

Tóm tắt nội dung tài liệu: SKKN Một số biện pháp nhằm kích thích sử dụng đồ dùng gia đình trong hoạt động góc đối với trẻ mẫu giáo 4 - 5 tuổi lớp B4, Trường Mầm non Trần Nguyên Hãn (GV: Vi Thị Giang)

SKKN Một số biện pháp nhằm kích thích sử dụng đồ dùng gia đình trong hoạt động góc đối với trẻ mẫu giáo 4 - 5 tuổi lớp B4, Trường Mầm non Trần Nguyên Hãn (GV: Vi Thị Giang)
 1 
 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM 
 Độc lập - Tự do - Hạnh phúc 
 THUYẾT MINH MÔ TẢ GIẢI PHÁP VÀ 
 KẾT QUẢ THỰC HIỆN SÁNG KIẾN 
 1. Tên sáng kiến: “Một số biện pháp nhằm kích thích sử dụng đồ dùng gia 
đình trong hoạt động góc đối với trẻ mẫu giáo 4 - 5 tuổi lớp B4, Trường Mầm non 
Trần Nguyên Hãn”. 
 2. Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử: 01/10/2024. 
 3. Các thông tin cần bảo mật (nếu có): Không có. 
 4. Mô tả các giải pháp cũ thường làm 
 - Tạo môi trường góc chơi truyền thống: Giáo viên thường sắp xếp các góc 
chơi một cách cố định, ít thay đổi, với các đồ dùng quen thuộc như bộ đồ chơi nấu 
ăn bằng nhựa, bộ ấm chén, hoặc một số vật dụng gia đình đơn giản. Các góc chơi 
thường được phân chia rõ ràng và trẻ thường chơi theo kịch bản có sẵn. 
 - Hoạt động nhập vai theo khuôn mẫu: Trẻ thường đóng vai theo các vai diễn 
quen thuộc như “mẹ”, “bố”, “con” và thực hiện các hành động lặp đi lặp lại như 
nấu ăn, dọn dẹp. Giáo viên thường đưa ra các tình huống chơi cụ thể, và trẻ làm 
theo mà ít có cơ hội sáng tạo. 
 - Sử dụng đồ dùng đơn giản, ít đa dạng: Các đồ dùng gia đình được sử dụng 
thường là đồ chơi bằng nhựa, ít có tính chân thực và đa dạng. Trẻ ít có cơ hội tiếp 
xúc và sử dụng các đồ dùng gia đình thật hoặc các vật liệu tái chế để tạo ra đồ dùng. 
 - Hướng dẫn và tương tác theo kiểu truyền đạt: Giáo viên thường hướng dẫn 
trẻ cách sử dụng đồ dùng một cách trực tiếp và ít khuyến khích trẻ tự khám phá. 
Tương tác giữa giáo viên và trẻ thường là sự truyền đạt kiến thức một chiều. 
 5. Sự cần thiết phải áp dụng giải pháp sáng kiến 
 Trẻ mẫu giáo trong độ tuổi 4 - 5 có nhu cầu mạnh mẽ về khám phá thế giới 
xung quanh và thường rất hứng thú với các hoạt động gần gũi với cuộc sống hằng 
ngày như các đồ dùng gia đình. Việc sử dụng các đồ dùng gia đình trong hoạt động 
góc giúp trẻ phát triển kỹ năng quan sát, phân loại và sử dụng các vật dụng một 
cách hợp lý. 
 2 
 Đối với trẻ mầm non thế giới xung quanh là cả một thế giới kì diệu. Trẻ luôn 
mong muốn được khám phá và chiếm lĩnh nó. Nếu trẻ không có hứng thú nhận 
thức thì não sẽ nhanh mệt mỏi, khả năng tập trung chú ý sẽ giảm sút, trẻ không tích 
cực hoạt động với đối tượng nên khả năng nhận thức của trẻ sẽ bị ảnh hưởng đáng 
kể. Vì vậy, nếu hứng thú nhận thức được củng cố và phát triển một cách có hệ 
thống thì nó sẽ làm cơ sở cho thái độ tích cực học tập và là một trong những động 
lực thúc đẩy hoạt động. 
 Đồ vật đưa trẻ vào thế giới của người lớn, cung cấp thông tin cho chúng, làm 
phong phú nội dung kinh nghiệm xã hội, có ảnh hưởng đến sự phát triển toàn diện 
của trẻ. Những đồ dùng gia đình là những vật do con người tạo ra để dùng trong 
sinh hoạt và hoạt động hàng ngày. Việc tìm hiểu, khám phá đồ dùng gia đình sẽ 
giúp trẻ nắm được tên gọi, đặc điểm và cách sử dụng chúng đối với chức năng theo 
phương thức Người. Muốn vậy những đồ dùng sinh hoạt phải gây được hứng thú 
cho trẻ mong muốn tìm hiểu, khám phá, sử dụng chúng. 
 Thực tiễn giáo dục mầm non cho thấy, hoạt động vui chơi có nhiều ưu thế 
trong việc kích thích trẻ hứng thú sử dụng đồ dùng sinh hoạt. Bởi hoạt động vui 
chơi là hoạt động chủ đạo của trẻ mẫu giáo được người lớn tổ chức, hướng dẫn 
nhằm thỏa mãn nhu cầu vui chơi và nhận thức của trẻ. 
 Thông qua việc thao tác với các đồ dùng gia đình như nấu ăn, dọn dẹp, sắp 
xếp, trẻ được học và rèn luyện các kỹ năng tự phục vụ và tính tự lập. Đây là nền 
tảng quan trọng giúp trẻ hình thành các kỹ năng sống cơ bản, chuẩn bị tốt hơn cho 
quá trình học tập và sinh hoạt sau này. Khi tham gia vào các trò chơi với đồ dùng 
gia đình, trẻ có cơ hội trao đổi, thảo luận và hợp tác với bạn bè, từ đó phát triển kỹ 
năng giao tiếp và vốn từ vựng. Việc khuyến khích trẻ sử dụng đồ dùng gia đình 
trong các hoạt động góc như trò chơi đóng vai (nấu ăn, bán hàng, chăm sóc gia 
đình) giúp trẻ phát triển trí tưởng tượng và tư duy sáng tạo. Trẻ có thể tự nghĩ ra 
các tình huống, giải quyết vấn đề trong trò chơi, từ đó rèn luyện khả năng tư duy 
linh hoạt. 
 Tuy nhiên, nhiều giáo viên vẫn chưa nhận thức rõ được tầm quan trọng việc 
giúp trẻ biết cách sử dụng một số đồ dùng sinh hoạt dẫn đến không có những tác 
động để kích thích hứng thú cho trẻ sử dụng đồ dùng sinh hoạt hoặc lo ngại một số 
đồ dùng sinh hoạt có thể gây mất an toàn cho trẻ nên chưa quan tâm vấn đề này. 
 3 
 Áp dụng các biện pháp sáng tạo trong việc sử dụng đồ dùng gia đình giúp giáo 
viên dễ dàng tổ chức các hoạt động đa dạng và phong phú hơn. Giúp giáo viên linh 
hoạt trong việc thiết kế các tình huống chơi phù hợp với nhu cầu và khả năng của 
từng trẻ. 
 6. Mục đích của giải pháp sáng kiến 
 Tôi nghiên cứu đề tài “Một số biện pháp nhằm kích thích sử dụng đồ dùng gia 
đình trong hoạt động góc đối với trẻ mẫu giáo 4 - 5 tuổi lớp B4, Trường Mầm non 
Trần Nguyên Hãn” nhằm kích thích ở trẻ hứng thú sử dụng đồ dùng gia đình nói 
chung và ở trò chơi đóng vai trong hoạt động góc nói riêng. 
 7. Nội dung 
 7.1. Thuyết minh giải pháp mới hoặc cải tiến 
 Tôi đã đưa ra được một số giải pháp mới và phù hợp giúp giáo viên mầm non 
có thể kích thích hứng thú sử dụng đồ dùng gia đình cho trẻ mẫu giáo 4 - 5 tuổi 
trong hoạt động vui chơi, cụ thể như sau: 
 7.1.1. Xây dựng góc chơi (môi trường chơi) thuận tiện, hấp dẫn trẻ 
 Mục đích: Môi trường chơi cho trẻ với sự đa dạng, phong phú của các đồ 
dùng, đồ chơi được bố trí thuận tiện, hấp dẫn sẽ khơi gợi trí tò mò, kích thích hứng 
thú cho trẻ khám phá, sử dụng các đồ dùng đó, duy trì hứng thú bền vững hơn khi 
tham gia hoạt động. Việc bố trí các đồ dùng ở góc chơi gia đình thuận tiện sẽ tạo 
điều kiện cho trẻ có không gian chơi, an toàn cho trẻ, dễ dàng trong việc lấy những 
đồ dùng mà chúng cần trong quá trình chơi. 
 Cách tiến hành: Để tạo môi trường chơi cho trẻ ở góc gia đình sao cho thuận 
tiện và hấp dẫn nhằm kích thích hứng thú sử dụng các đồ dùng đó thì giáo viên cần 
tiến hành theo các bước sau: 
 Bước 1: Lựa chọn các đồ dùng trong góc chơi gia đình. 
 - Để lựa chọn các đồ dùng gia đình cho trẻ chơi cần đảm bảo các yêu cầu sau: 
 + Các đồ dùng lựa chọn phù hợp với chủ đề, nội dung chơi, phong phú về 
màu sắc, phù hợp với hiểu biết của trẻ, trẻ có khả năng sử dụng chúng. 
 + Số lượng các đồ dùng phải đủ để các trẻ có thể tham gia vào chơi, giảm bớt 
thời gian chờ đợi, làm tăng hiệu quả hoạt động. 
 + Các đồ dùng, đồ chơi có nhiều công dụng; có tính phức hợp; đảm bảo an 
toàn cho trẻ, nhẹ, không gây nguy hiểm, không gây ngộ độc cho trẻ. 
 4 
 Bố trí đồ dùng thuận tiện cho trẻ sử dụng. 
 - Ngoài những đồ dùng gia đình dưới dạng là các đồ chơi thì khi đưa một số 
đồ dùng thật cần phải lưu ý: phải phong phú về chủng loại, chất liệu, công dụng để 
trẻ có cơ hội được khám phá, sử dụng nhiều loại đồ dùng có trong gia đình. 
 - Có thể lựa chọn các đồ dùng gia đình sau: dụng cụ nấu ăn, đồ dùng ăn uống, 
đồ dùng cá nhân, các loại thực phẩm và các đồ dùng khác. 
 Sử dụng một số đồ dùng, đồ chơi thật để gây hứng thú cho trẻ. 
 Bước 2: Bố trí các đồ dùng vào các khu vực chơi. 
 - Khi bố trí và tạo không gian cho các khu vực hoạt động cần đảm bảo các yêu 
cầu sau: bố trí và sắp xếp các khu vực và dụng cụ cho trẻ hoạt động cần đảm bảo 
sự hài hoà, đơn giản, ngăn nắp và thuận tiện trong tổng thể chung, đảm bảo yêu 
 5 
cầu về ánh sáng, thẩm mĩ, tránh sự phân tán; đảm bảo nguyên tắc động và tĩnh; các 
khu vực chơi có mối liên hệ với nhau và duy trì hứng thú của trẻ với các hoạt động 
cụ thể, khai thác nó ở mức độ cao nhất; tạo không gian cho trẻ hoạt động, làm biểu 
tượng cho các khu vực chơi. 
 Có biểu tượng cho các khu vực chơi. 
 Bước 3: Làm mới môi trường để kích thích trẻ hứng thú sử dụng đồ dùng gia đình. 
 Có thể làm mới môi trường tăng sự hấp dẫn của môi trường với trẻ bằng cách 
sau: đưa các đồ dùng vào góc chơi của trẻ dần dần; giáo viên nên bổ sung đồ dùng 
đồ chơi theo các tình huống chơi của trẻ; bổ sung những đồ chơi liên quan đến chủ 
đề để tăng sự hấp dẫn nội dung chơi cho trẻ; bổ sung thêm các đồ dùng thật phù 
hợp, an toàn, dễ sử dụng để kích thích hứng thú cho trẻ. 
 Bổ sung đồ chơi liên quan đến chủ đề. 
 6 
 Điều kiện thực hiện: Giáo viên chủ động tìm kiếm, làm các đồ dùng đồ chơi, 
ưu tiên sử dụng các nguyên vật liệu có sẵn. Đặc biệt, chú ý đến nhóm đồ dùng, đồ 
chơi sử dụng trong gia đình. Giáo viên phải hiểu rõ đặc điểm, tính chất, công dụng 
của các đồ dùng, đồ chơi, nắm rõ cách sử dụng các đồ dùng. Đồ dùng đồ chơi đảm 
bảo an toàn, phong phú, đa dạng, hấp dẫn, có tính giáo dục. 
 7.1.2. Tăng cường sử dụng các tình huống cụ thể nhằm kích thích hứng thú 
sử dụng đồ dùng gia đình cho trẻ 
 Mục đích: Bổ sung kiến thức về đồ dùng gia đình cho trẻ qua hoạt động, từ đó 
tạo điều kiện để trẻ chủ động tích cực lựa chọn đồ dùng đồ chơi, không lúng túng 
khi sử dụng chúng; tạo sự mong muốn, khám phá đồ dùng ở trẻ; hướng dẫn trẻ 
cách sử dụng đồ dùng gia đình đúng chức năng, đúng cách nhằm hình thành kĩ 
năng sử dụng các đồ dùng đó cho trẻ. 
 Tôi chưa biết cho búp bê ăn, bác dạy tôi cách cho búp bê ăn? 
 Cách thực hiện: Nhằm hình thành kĩ năng sử dụng đồ dùng gia đình để kích 
thích hứng thú ở trẻ thông qua các tình huống cụ thể. 
 Thứ nhất: Xây dựng các tình huống cụ thể để trẻ chơi. 
 7 
 Cơ sở để xây dựng các tình huống cho trẻ chơi: Dựa vào chủ đề, nội dung 
chơi của trẻ 4 - 5 tuổi. Các tình huống phải gắn với chủ đề và nội dung chơi của trẻ 
để lựa chọn các đồ dùng phù hợp. Đặc điểm kĩ năng sử dụng các đồ dùng trong khi 
chơi. Thời gian hứng thú của trẻ trong hoạt động chơi cũng như thời gian hứng thú 
sử dụng đồ dùng đó như thế nào? 
 Yêu cầu khi xây dựng các tình huống: Có mục đích cụ thể; các tình huống xây 
dựng phải phù hợp với đặc điểm tâm lý, khả năng nhận thức của trẻ; là những tình 
huống cụ thể gắn với kinh nghiệm của bản thân trẻ; các tình huống đưa ra phải gắn 
liền với diễn biến trò chơi của trẻ; giáo viên đóng một vai chơi bên cạnh trẻ để 
hướng tới việc hình thành kĩ năng cho trẻ, không làm hộ, làm thay trẻ. 
 Thứ hai: Hướng dẫn trẻ sử dụng các tình huống cụ thể trong quá trình tổ chức 
hoạt động vui chơi. 
 + Với các đồ dùng nấu ăn: Phần lớn trẻ đều biết cách sử dụng, trẻ rất hứng thú 
với việc sử dụng các đồ dùng này. Các tình huống đưa ra chủ yếu nhằm vào việc 
duy trì hứng thú sử dụng các đồ dùng cho trẻ hoặc kích thích trẻ chủ động trong 
việc lựa chọn các đồ dùng để chế biến những món mình cần và biết cách sử dụng 
các loại đồ dùng khác nhau. Vì thế, giáo viên hướng dẫn trẻ bằng cách chơi cạnh 
trẻ hoặc đưa thêm những nguyên vật liệu mới để trẻ sử dụng... Sử dụng trong các 
tình huống nấu bột, cơm, cho búp bê, hoặc nấu ăn mừng sinh nhật mẹ. 
 + Với đồ dùng ăn uống: Thực tiễn cho thấy đồ dùng này trẻ đã biết cách sử 
dụng nhưng thao tác còn vụng về. Giáo viên hướng dẫn trẻ bằng cách đóng 1 vai 
chơi, chơi cạnh trẻ để trẻ quan sát thao tác sử dụng các đồ dùng này. Có thể sử 
dụng trong các tình huống như cho búp bê ăn, tổ chức bữa ăn mừng sinh nhật mẹ. 
 + Với đồ dùng cá nhân: Trong 3 loại đồ dùng thì đồ dùng cá nhân là trẻ còn 
gặp khó khăn nhiều nhất, kỹ năng chưa thành thạo. Nên với nhóm đồ dùng này trẻ 
thường hứng thú lúc đầu do bị hấp dẫn bởi các đồ dùng sau đó thì chán ngay, hoặc 
không chủ động trong việc lựa chọn các đồ dùng. Khi trẻ gặp khó khăn cô có thể 
chơi cạnh trẻ trong cách tình huống: đánh răng cho bạn búp bê chuẩn bị đi học; 
mặc quần áo cho búp bê để đi học; tắm rửa cho búp bê; mặc áo yếm nấu ăn . 
 Thứ ba: Việc tạo ra các tình huống cụ thể để hình thành kĩ năng sử dụng đồ dùng 
gia đình nên trong quá trình trẻ chơi các tình huống có thể xảy ra bất cứ lúc nào và 
vào bất cứ thời điểm nào của trò chơi trong các mối quan hệ thực và các mối quan hệ 
 8 
chơi của trẻ. Vì vậy trước tiên, giáo viên phải theo dõi, quan sát để phát hiện những 
tình huống nảy sinh theo diễn biến của cuộc chơi trong các mối quan hệ của trẻ. 
 Điều kiện thực hiện: Giáo viên phải có kỹ năng quan sát tốt để phát hiện và 
tận dụng các tình huống sẵn có theo diễn biến trò chơi của trẻ để có những tác 
động kịp thời. Giáo viên phải nắm được đặc điểm của trẻ 4 - 5 tuổi và bản chất 
hoạt động vui chơi để có thể tạo ra nhiều tình huống phù hợp với trẻ. Giáo viên 
phải có khả năng giao tiếp, sư phạm phù hợp với đặc điểm của trẻ 4 - 5 tuổi và xử 
lý các tình huống sư phạm hợp lý, kịp thời. 
 7.1.3. Kích thích trẻ tích cực sử dụng đồ dùng gia đình theo các đề tài hấp dẫn 
 Mục đích: Duy trì hứng thú sử dụng các đồ dùng đó ở trẻ lâu hơn; giúp trẻ sử 
dụng nhiều loại đồ dùng gia đình khác nhau và biết phối hợp sử dụng các đồ dùng 
trong các trò chơi hấp dẫn; kích thích trẻ tự lựa chọn các đồ dùng trong quá trình 
chơi; khơi gợi những xúc cảm của trẻ trong quá trình thao tác với đồ dùng, mong 
muốn, thích thú với việc khám phá các đồ dùng đó. 
 Cách tiến hành: 
 Bước 1: Giáo viên gợi mở các trò chơi theo đề tài hấp dẫn để kích thích trẻ tích 
cực sử dụng các đồ dùng gia đình. 
 - Yêu cầu của việc lựa chọn trò chơi và nội dung chơi cho trẻ: Lựa chọn đề 
tài phù hợp với đặc điểm lứa tuổi, chủ đề gần gũi, đặc điểm trò chơi đóng vai theo 
chủ đề; các đề tài lựa chọn sao cho trọng tâm hướng vào việc kích thích trẻ tích cực 
sử dụng các đồ dùng gia đình; dựa vào kỹ năng sử dụng các đồ dùng của trẻ và 
giúp trẻ có cơ hội được sử dụng nhiều loại đồ dùng khác nhau. 
 Bước 2: Tạo môi trường chơi hấp dẫn cho từng trò chơi. 
 - Lựa chọn các đồ dùng phù hợp với nội dung chơi ở trẻ. 
 - Giáo viên bầy biện, bố trí đồ dùng, đồ chơi, trang trí mảng tường sao cho hấp 
dẫn, thuận tiện, ở trạng thái mở: giúp cho trẻ dễ dàng khi tìm kiếm các đồ dùng để 
chơi, khơi gợi xúc cảm của trẻ, hứng thú chơi, nảy sinh ý tưởng chơi của trẻ. 
 Bước 3: Tổ chức cho trẻ chơi theo các đề tài đã chọn. 
 - Trước khi chơi: Đàm thoại với trẻ về chủ đề định tiến hành. 
 - Trong khi chơi: Cho trẻ chơi, giáo viên quan sát giúp đỡ khi cần thiết. 
 - Sau khi chơi: Kết thúc: Giáo viên khen ngợi, động viên khuyến khích trẻ, 
khơi gợi hứng thú cho trẻ ở những buổi chơi sau. 
 9 
 Trò chơi: Nấu các món ăn (Đề tài: Sinh nhật mẹ). 
 Đi chợ mua đồ dùng cho gia đình. 
 Điều kiện thực hiện: Giáo viên nắm được đặc điểm tâm, sinh lí lứa tuổi, đặc 
điểm xúc cảm - vận động trẻ và bản chất của hoạt động vui chơi để xây dựng 
những đề tài cho trẻ chơi; Trẻ có kỹ năng chơi, phối hợp với các bạn khi chơi. 
 10 
 * Kết quả của sáng kiến 
 Trong quá trình thực nghiệm trên trẻ lớp 4 tuổi B4 tôi đã thu được kết quả 
đáng khích lệ. Tôi chia lớp thành 2 nhóm: 
 Tôi đã tiến hành thực nghiệm dựa trên các tiêu chí và thang đánh giá: 
 * Thang đánh giá: 
 Mức độ 1: Hứng thú cao; Mức độ 2: Hứng thú; Mức độ 3: Hứng thú thấp. 
 Qua quá trình thực nghiệm thu được kết quả như sau: 
 Mức độ hứng thú sử dụng đồ dùng gia đình trong hoạt động vui chơi của 
nhóm thực nghiệm và đối chứng trước và sau thực nghiệm: 
 Mức độ 
 Số Hứng thú cao Hứng thú Hứng thú thấp 
 Nhóm Thời gian 
 trẻ Số Số Số 
 % % % 
 lượng lượng lượng 
 Trước thực 
 16 1 6,25 6 37,5 9 56,25 
 Đối nghiệm 
 chứng Sau thực 
 16 1 6,25 10 62,5 5 31,25 
 nghiệm 
 Trước thực 
 16 1 6,25 5 31,25 10 62,5 
 Thực nghiệm 
 nghiệm Sau thực 
 16 3 18,75 12 75 1 6,25 
 nghiệm 
 Bảng 1: Bảng đánh giá mức độ hứng thú sử dụng đồ dùng gia đình trong hoạt 
 động vui chơi của nhóm thực nghiệm và đối chứng. 
 Qua bảng 1 cho thấy, sau thực nghiệm số trẻ ở mức hứng thú cao và hứng thú 
ở nhóm thực nghiệm cao hơn nhóm đối chứng, số trẻ ở mức hứng thú thấp ở nhóm 
thực nghiệm (6,25%) thấp hơn nhiều so với nhóm đối chứng (31,25%). 
 Mức độ hứng thú cao và hứng thú: Sau thực nghiệm, mức độ hứng thú cao của 
trẻ nhóm thực nghiệm được nâng lên (từ 6,25% => 18,75%), cao hơn so với nhóm 
đối chứng (6,25%). Mức độ hứng thú của cả hai nhóm đã tăng lên đáng kể. Mức độ 
hứng thú thấp: tỉ lệ ở nhóm thức nghiệm đã giảm đáng kể so với nhóm đối chứng. 
 * Tiêu chí đánh giá hứng thú sử dụng đồ dùng gia đình của trẻ: 
 Tiêu chí 1: Trẻ chủ động, tự giác sử dụng đồ dùng gia đình (3 điểm). 
 Tiêu chí 2: Biểu hiện xúc cảm của trẻ khi sử dụng đồ dùng gia đình (3 điểm). 
 Tiêu chí 3: Thời gian sử dụng đồ dùng gia đình của trẻ (3 điểm). 
 11 
 - Hứng thú sử dụng đồ dùng gia đình trong hoạt động vui chơi của nhóm thực 
nghiệm và đối chứng (theo tiêu chí). 
 Tiêu chí (điểm) 
 Nhóm Thời gian Tiêu chí 1 Tiêu chí 2 Tiêu chí 3 Tổng 
 (3 điểm) (3 điểm) (3 điểm) 
 1.63 1.73 1.31 4.67 
 Đối Trước thực nghiệm 
 chứng Sau thực nghiệm 1.77 2.10 1.37 5.24 
 1.70 2.03 1.30 5.03 
 Thực Trước thực nghiệm 
 nghiệm Sau thực nghiệm 2.0 2.4 1.37 5.77 
 Bảng 2: Bảng đánh giá hứng thú sử dụng đồ dùng gia đình trong hoạt động vui 
 chơi của lớp thực nghiệm và đối chứng (theo tiêu chí) 
 Qua bảng 2 cho thấy: mức độ hứng thú sử dụng đồ dùng gia đình của trẻ ở cả 
2 nhóm thực nghiệm và đối chứng đều được nâng cao hơn so với trước thực 
nghiệm. Điểm trung bình cộng của nhóm đối chứng (5.24) và nhóm thực nghiệm 
(5.77) đều tăng cao hơn so với trước thực nghiệm (nhóm đối chứng là 4.67 và 
nhóm thực nghiệm là 5.03). 
 Xét về tiêu chí: Cả 3 tiêu chí, ở nhóm thực nghiệm đều cao hơn so với nhóm 
đối chứng. Đáng chú ý, ở tiêu chí 3 việc duy trì hứng thú của trẻ đã có thể đạt hiệu 
quả nhất định do những tác động nhưng so với 2 tiêu chí còn lại mức thay đổi ít 
hơn. Mặc dù kết quả sau thực nghiệm cả 2 nhóm đều tăng, song mức tăng của 
nhóm thực nghiệm cao hơn nhóm đối chứng. 
 * Sản phẩm được tạo ra từ giải pháp: 
 - Rau củ quả bằng vải dạ nhồi bông (quả dưa hấu: 03 quả; quả xoài: 10 quả; 
quả mướp: 05 quả; quả bí xanh: 05 quả; quả dâu tây: 10 quả; bí đỏ: 05 quả; mướp: 
05 quả, củ cải: 10 củ; cà rốt: 10 củ; su hào: 05 củ 
 - Xoong, nồi, bếp gas bằng xốp: 01 bộ; 
 - Bàn, ghế bằng que kem: 01 bộ; Ấm chén bằng hộp sữa chua: 02 bộ. 
 - Bộ giường, tủ, bàn uống nước bằng bìa catton và vải dạ: 01 bộ; 
 - Một số thực phẩm: Nem rán: 02 đĩa, cơm cuộn: 02 hộp, bánh gato bằng hộp 
catton: 01 chiếc, đùi gà: 02 đĩa, tôm: 01 khay, cua: 01 khay... 
 12 
 7.2. Thuyết minh về phạm vi áp dụng sáng kiến 
 Đầu tiên tôi chỉ áp dụng sáng kiến này với bản thân tôi và tại lớp của mình đó 
là lớp mẫu giáo 4 - 5 tuổi B4, Trường Mầm non Trần Nguyên Hãn vào khoảng 
tháng 10/2024. 
 Từ kết quả của lớp mình đã đạt được tôi đã mạnh dạn áp dụng sang các lớp 
khác trong khối mẫu giáo 4-5 tuổi Trường Mầm non Trần Nguyên Hãn. Ngay khi 
áp dụng thì kết quả của các lớp cũng đạt được khá cao. Do vậy tôi cũng đã trao đổi 
với các đồng nghiệp khác trong trường để cùng nhau áp dụng các biện pháp này, 
mong rằng sẽ đạt hiệu quả cao hơn nữa khi tổ chức các hoạt động giáo dục trẻ. Từ 
hiệu quả đã áp dụng, tôi nhận thấy đề tài có thể áp dụng rộng rãi ở các trường mầm 
non trong thành phố Bắc Giang cũng như các trường mầm non trong toàn tỉnh. 
7.3. Thuyết minh về lợi ích kinh tế, xã hội của sáng kiến 
 Các biện pháp đưa ra không chỉ mang lại lợi ích về mặt kinh tế thông qua việc 
tiết kiệm chi phí và tối ưu hóa nguồn lực mà còn đóng góp tích cực cho xã hội 
thông qua giáo dục kỹ năng sống, bảo vệ môi trường và xây dựng sự gắn kết giữa 
nhà trường với gia đình. Cụ thể: 
 * Lợi ích kinh tế: 
 Giảm chi phí trang thiết bị học liệu: Thay vì đầu tư các bộ đồ chơi mô phỏng 
đắt tiền, giáo viên có thể sáng tạo từ các đồ dùng gia đình đơn giản để làm phong 
phú hoạt động góc cho trẻ. 
 Tái chế và tái sử dụng: Việc sử dụng các vật dụng gia đình cũ không chỉ tiết 
kiệm chi phí mà còn góp phần giảm thiểu rác thải, khuyến khích lối sống tiết kiệm 
và bảo vệ môi trường. 
 Chi phí thấp nhưng hiệu quả cao: Sáng kiến này không đòi hỏi kinh phí lớn 
nhưng mang lại lợi ích lâu dài trong việc phát triển toàn diện cho trẻ, từ kỹ năng 
sống đến tư duy sáng tạo. 
 * Lợi ích xã hội: 
 Phát triển kỹ năng sống và tính tự lập cho trẻ: Làm quen với công việc gia 
đình: Thông qua các hoạt động góc như nấu ăn, dọn dẹp, trẻ được học cách sử 
dụng và quản lý đồ dùng, từ đó hình thành kỹ năng sống cơ bản và tính tự lập; Khi 
tham gia các trò chơi đóng vai, trẻ hiểu hơn về vai trò và trách nhiệm của từng 
thành viên trong gia đình. 
 13 
 Xây dựng mối quan hệ gắn kết giữa nhà trường và gia đình: Khi phụ huynh 
đóng góp các đồ dùng gia đình, họ có cơ hội hiểu rõ hơn về phương pháp giáo dục 
của nhà trường và gắn bó hơn với hoạt động học tập của con; Tạo niềm tin giữa nhà 
trường và phụ huynh, khuyến khích sự hợp tác chặt chẽ trong quá trình giáo dục trẻ. 
 Góp phần giáo dục lối sống tiết kiệm và bảo vệ môi trường: Trẻ được giáo dục 
về giá trị của việc sử dụng lại các đồ vật, từ đó hình thành thói quen tiết kiệm và 
tránh lãng phí; Việc tái sử dụng đồ dùng gia đình giúp giảm lượng rác thải ra môi 
trường, góp phần xây dựng ý thức bảo vệ môi trường ngay từ nhỏ cho trẻ. 
 Thúc đẩy sự phát triển toàn diện của trẻ: Khi tham gia các hoạt động đóng vai 
và trò chơi nhóm với các đồ dùng gia đình, trẻ học cách giao tiếp, chia sẻ và hợp 
tác với bạn bè; Trẻ được khuyến khích nghĩ ra các tình huống chơi đa dạng, phát 
huy trí tưởng tượng và tự tin thể hiện bản thân. 
 * Cam kết: Tôi cam đoan những điều khai trên đây là đúng sự thật và không 
sao chép hoặc vi phạm bản quyền. 
 HIỆU TRƯỞNG Tác giả sáng kiến 
 Hoàng Thị Ngân Vi Thị Giang 

File đính kèm:

  • pdfskkn_mot_so_bien_phap_nham_kich_thich_su_dung_do_dung_gia_di.pdf