SKKN Một số giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động khám phá khoa học cho trẻ 3 - 4 tuổi trong trường mầm non

docx 23 Trang Vi Ngọc 2
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "SKKN Một số giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động khám phá khoa học cho trẻ 3 - 4 tuổi trong trường mầm non", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

Tóm tắt nội dung tài liệu: SKKN Một số giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động khám phá khoa học cho trẻ 3 - 4 tuổi trong trường mầm non

SKKN Một số giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động khám phá khoa học cho trẻ 3 - 4 tuổi trong trường mầm non
 Stt Tiêu đề Trang
 1 ĐẶT VẤN ĐỀ. 3
 1.1 Lý do chọn đề tài. 3
 1.2 Mục đích nghiên cứu. 4
 1.3 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
 1.4 Đối tượng nghiên cứu. 5
 1.5 Phương pháp nghiên cứu. 5
 2 NỘI DUNG. 5
 2.1 Cơ sở lý luận. 5
 2.2 Thực trạng. 6
2.2.1 Thuận lợi. 7
2.2.2 Khó khăn. 7
 2.3 Các biện pháp. 9
2.3.1 Giải pháp 1: Xây dựng nội dung hoạt động khám phá .... 9
 Giải pháp 2 : Tạo môi trường riêng cho hoạt động khám 
2.3.2
 phá...
2.3.3 Giải pháp 3. Cho trẻ tham gia trải nghiệm thực tế 10
 Giải pháp 4: Sử dụng đồ dùng trực quan sinh động, lôi 18
2.3.4
 cuốn trẻ 
 Giải pháp 5: Tạo tình huống và câu hỏi gợi mở sau mỗi 20
2.3.5
 giờ học......
 Giải pháp 6: Ứng dụng công nghệ thông tin tích hợp vào 22
2.3.6
 công tác giảng dạy.
2.3.7 Giải pháp7: Phối kết hợp tuyên truyền với phụ huynh 
 2.4 Hiệu quả và ứng dụng 23 3 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 24
 3.1 Kết luận. 24
 3.2 Kiến nghị. 24
 4 TÀI LIỆU THAM KHẢO. 26
 1. ĐẶT VẤN ĐỀ
 1.1. Lý do chọn đề tài
 Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy:
 “ Vì lợi ích mười năm trồng cây.
 Vì lợi ích trăm năm trồng người”.
 Thấm nhuần lời dạy của Bác, cấp học mầm non luôn xác định nhiệm vụ quan 
trọng nhất trong sự nghiệp trồng người là phải chăm sóc, giáo dục trẻ ngay từ nhỏ 
để hình thành và phát triển nhân cách trẻ một cách toàn diện. Như chúng ta đều 
biết, giai đoạn 0 - 6 tuổi là giai đoạn “Vàng” phát triển của trẻ mầm non. Do vậy, 
chúng ta cần có những biện pháp giáo dục tích cực để phát huy hết khả năng tiềm 
tàng của trẻ, trang bị cho trẻ những tri thức khoa học và nhân cách toàn diện để 
theo kịp thời đại. Trong công tác giáo dục trẻ mầm non thì việc cho trẻ khám phá 
khoa học là không thể thiếu, có tác dụng giáo dục về mọi mặt đối với trẻ như là: 
Ngôn ngữ, đạo đức, trí tuệ, thẩm mỹ, thể lực... Khám phá khoa học là phương tiện 
để giao tiếp và làm quen với môi trường xung quanh, môi trường xã hội để giao 
lưu và bày tỏ nguyện vọng của mình và đồng thời là công cụ của tư duy. Khi nói 
đến trẻ mầm non không ai không biết trẻ ở lứa tuổi này rất thích tìm hiểu, khám 
phá thế giới xung quanh bởi thế giới xung quanh thật bao la rộng lớn, có rất nhiều 
điều mới hấp dẫn, và còn có bao điều lạ lẫm khó hiểu, trẻ tò mò muốn biết, muốn 
được khám phá. 
 Hoạt động khám phá khoa học mang lại nguồn biểu tượng vô cùng phong phú, 
đa dạng, sinh động, đầy hấp dẫn với trẻ thơ, từ môi trường tự nhiên (cỏ cây, hoa lá, 
chim muông...) vì thế trẻ luôn có niềm khao khát khám phá, tìm hiểu về chúng. Khám phá khoa học đòi hỏi trẻ phải sử dụng tích cực các giác quan chính vì vậy sẽ phát triển 
ở trẻ năng lực quan sát, khả năng phân tích, so sánh, tổng hợp Nhờ vậy khả năng 
cảm nhận của trẻ sẽ nhanh nhạy, chính xác, những biểu tượng, kết quả trẻ thu nhận 
được trở nên cụ thể, sinh động và hấp dẫn hơn. Qua những thí nghiệm nhỏ trẻ được tự 
mình thực hiện trong độ tuổi mầm non sẽ hình thành ở trẻ những biểu tượng thiên 
nhiên chính là cơ sở khoa học sau này của trẻ. Là một giáo viên mầm non tôi luôn tìm 
hiểu xem đề tài nào phù hợp, kỹ năng nào phù hợp thực tiễn của lớp và đảm bảo an 
toàn với trẻ lớp mình để trẻ cùng cô khám phá trải nghiệm mang lại hiệu quả cao giúp 
trẻ phát triển toàn diện.
 Nhận thức được tầm quan trọng của việc cho trẻ khám phá và làm sao để 
những giờ học đó trở nên thú vị, không khô khan với trẻ tôi đã mạnh dạn chọn đề 
tài: “Một số giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động khám phá khoa học cho 
trẻ 3 - 4 tuổi trong trường mầm non” làm đề tài sáng kiến kinh nghiệm của mình. 
Mong rằng kinh nghiệm nhỏ này có thể vận dụng vào công tác chăm sóc giáo dục 
trẻ của các đồng nghiệp.
 1.2. Mục đích nghiên cứu.
 Mục đích nghiên cứu của đề tài này là nhằm nghiên cứu: “Một số giải pháp 
nâng cao chất lượng hoạt động khám phá cho trẻ 3 - 4 tuổi trong trường mầm non” 
Từ đó đưa ra những ý kiến đề xuất nhằm nâng cao chất lượng hoạt động khám phá 
cho trẻ lớp 3 - 4 tuổi.
 1.3. Nhiệm vụ nghiên cứu.
 - Đánh giá chất lượng hoạt động giáo dục khám phá của trẻ trong nhà trường.
 - Rút ra những kết luận và ý kiến đề xuất một số biện pháp hữu hiệu để nâng cao 
chất lượng hoạt động khám phá cho trẻ 3 - 4 tuổi.
 1.4. Đối tượng nghiên cứu.
 - Đối tượng nghiên cứu: Trẻ 3 - 4 tuổi.
 - Phạm vi nghiên cứu: + Nghiên cứu một số giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động khám phá cho 
 trẻ 3 - 4 tuổi trong trường mầm non hiện nay.
 1.5. Phương pháp nghiên cứu.
 Qua thực tế giảng dạy và làm đề tài bản thân đã sử dụng một số phương 
pháp sau:
 - Phương pháp quan sát và đàm thoại.
 - Phương pháp ghi chép, tổng hợp.
 - Phương pháp trực quan.
 - Phương pháp thực hành.
 - Phương pháp kiểm tra, đánh giá.
 - Phương pháp động viên trẻ kịp thời.
 - Trong khi nghiên cứu đề tài tôi luôn sử dụng lồng ghép và linh hoạt các biện 
pháp để đạt kết quả tốt.
 2. NỘI DUNG 
 2.1. Cơ sở lý luận 
 Trẻ 3 - 4 tuổi là giai đoạn trẻ đang ở những bước phát triển mạnh về nhận 
thức, tư duy, ngôn ngữ, tình cảm. Ở tuổi mầm non trẻ rất thích tìm hiểu, khám phá 
thế giới xung quanh bởi thế giới xung có bao điều hấp dẫn. Hoạt động khám phá là 
phương tiện để trẻ giao tiếp và làm quen với thế giới xung quanh, để giao lưu và 
bày tỏ nguyện vọng của mình hình thành và nhận thức sự vật hiện tượng xung 
quanh. Thông qua hoạt động khám phá khoa học trẻ được lĩnh hội tiếp thu kiến 
thức về thế giới xung quanh trẻ. Từ đó giúp trẻ có thái độ ứng xử đúng đắn với 
thiên nhiên, với xã hội.
 Giáo viên mầm non có vai trò quan trọng giúp trẻ tiếp thu lĩnh hội kiến thức 
một cách đơn giản mà hiệu quả phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý trẻ, giáo dục trẻ 
theo quan điểm lấy trẻ làm trung tâm trong mọi hoạt động. Bằng những thí nghiệm 
đơn giản giáo viên có thể sử dụng vào trong các hoạt động khám phá khoa học để giải thích cho trẻ một cách rõ ràng có minh chứng cụ thể và tính thuyết phục cao về 
đặc tính của sự vật hiện tượng đáp ứng nhu cầu khám phá tìm tòi của trẻ và kích 
thích ở trẻ khả năng tư duy sáng tạo. Đối với trẻ, được trực tiếp làm các thí 
nghiệm với các vật là một điều vô cùng lý thú. Trẻ được tự mình trải nghiệm, tạo 
cơ hội cho trẻ chủ động lĩnh hội kiến thức một cách nhẹ nhàng mà sâu sắc.
 2.2. Thực trạng 
 Trường mầm non Tân Tiến nơi tôi công tác là ngôi trường luôn đi đầu trong 
công tác thi đua dạy tốt, học tốt của Thành Phố. Công tác xây dựng trường học lấy 
trẻ làm trung tâm luôn được nhà trường quan tâm đặt lên hàng đầu. Trong đó việc 
nâng cao chất lượng hoạt động khám phá khoa học cho trẻ là một trong những 
nhiệm vụ quan trọng. Để thực hiện nhiệm vụ đó đầu năm học tôi đã tiến hành khảo 
sát thực trạng của lớp 3 - 4 tuổi, tôi nhận thấy có những thuận lợi và khó khăn sau:
 * Thuận lợi:
 - Nhà trường luôn được sự hướng dẫn và chỉ đạo sát sao về chuyên môn của 
phòng Giáo dục thành phố Bắc Giang .
 - Ban giám hiệu luôn tạo mọi điều kiện về cơ sở vật chất cũng như việc nâng 
cao trình độ chuyên môn cho giáo viên.
 - Trẻ mẫu giáo bé rất hứng thú và thích tham gia những trò chơi trải nghiệm 
khám phá đặc biệt là những thí nghiệm trẻ được trực tiếp tham gia cùng với các 
bạn và cô giáo.
 - Cô giáo có chuyên môn vững, có kinh nghiệm nhiều năm dạy lớp mẫu giáo 
bé, luôn tìm tòi học hỏi, sưu tầm nghiên cứu tài liệu.
 - Trẻ có cùng độ tuổi nên nhận thức khá đồng đều.
 - Đặc biệt là phụ huynh cũng hưởng ứng rất nhiệt tình, cùng tham gia đóng 
góp nguyên vật liệu cho trẻ hoạt động.
 * Khó khăn:
 Bên cạnh những thuận lợi trên tôi còn gặp một số khó khăn khi thực hiện: - Một số phụ huynh chưa coi trọng bậc học mầm non vì nghĩ trẻ mẫu giáo bé 
chỉ chơi chứ chưa học gì, đặc biệt có những phụ huynh còn nói trẻ mầm non thì 
khám phá cái gì? Nên đưa con đi học chưa chuyên cần, chưa coi trọng việc học của 
trẻ. Vì vậy việc rèn nề nếp của trẻ cũng gặp khó khăn.
 - Nhiều trẻ chưa học qua nhà trẻ, trẻ mới bắt đầu đi học nên chưa có nề nếp 
học tập.
 - Giáo viên còn ngại tổ chức những thí nghiệm cho trẻ trực tiếp khám phá. 
Việc tổ chức thí nghiệm đòi hỏi giáo viên phải linh hoạt, sáng tạo và có kinh 
nghiệm tổ chức.
 - Mức độ khó hay dễ của các thí nghiệm không giống nhau. Có những thí 
nghiệm đối với trẻ có thể phát hiện được ngay nhưng có những thí nghiệm đòi hỏi 
trẻ phải tư duy.
 - Thời gian có thể tổ chức cho trẻ thí nghiệm rất hạn hẹp có thể là vào hoạt 
động ngoài trời, có thể là vào cả một hoạt động vì vậy mà giáo viên phải sắp xếp 
giờ hoạt động cho phù hợp. 
 -Trong lớp còn nhiều trẻ rụt rè, nhút nhát, thiếu tự tin không dám tham gia 
vào các các hoạt động của lớp.
 * Kết quả khảo sát đầu năm.
 Ngay từ đầu năm học khi học sinh đã ổn định, tôi khảo sát học sinh chuyên đề 
để nắm bắt tình hình phát triển của trẻ trong lớp 3 - 4 tuổi. Kết quả thu được như 
sau: 
 Trước khi
 thực hiện
 STT Nội dung
 Tỉ lệ
 Số trẻ đạt
 % 1 Kỹ năng quan sát 20/44 45,4
 Sử dụng các giác quan để xem xét, tìm hiểu 
 2 18/44 40,1
 đối tượng: nhìn, nghe, ngửi, sờ
 Phân loại các đối tượng theo dấu hiệu nổi 
 3 17/44 38,6
 bật
 - Sau khi khảo sát, nắm được mặt mạnh, mặt yếu về nhận thức của cả lớp nói 
chung và khă năng của từng trẻ nói riêng, để nâng cao chất lượng hoạt động khám 
phá cho trẻ tôi đã áp dụng 1 số giải pháp sau.
 2.3. Các giải pháp tiến hành để giải quyết vấn đề.
 2.3.1. Giải pháp 1: Xây dựng nội dung hoạt động khám phá.
 Đối với mỗi giờ hoạt động khám phá khoa học, nội dung hoạt động rất quan 
trọng nó quyết định đến sự thành công của tiết dạy. Vì vậy trước khi tổ chức hoạt 
động khám phá cho trẻ tôi thường xây dựng nội dung vừa hấp dẫn vừa bất ngờ.
 Với chủ đề Trường mầm non: Nội dung khám phá chủ yếu là trường mầm 
non, nhưng tôi không tổ chức theo cách cũ là cô giới thiệu từng khu vực cho trẻ 
quan sát mà cho trẻ tự khám phá khu vực mà mình yêu thích nhất, làm như vậy trẻ 
hứng thú hơn và tích cực hoạt động. Cho trẻ kể lại với các bạn những khu vực mà 
trẻ khám phá được.
 Chủ đề Gia đình tôi tổ chức trưng bày đồ dùng gia đình do trẻ mang tới và trẻ 
sẽ tự giới thiệu công dụng và chất liệu về các đồ dùng đó, có thể cho trẻ dùng thử 
nghiệm, cô củng cố lại. Đồng thời tôi phối hợp với phụ huynh học sinh tổ chức 
ngày hội gia đình tại lớp, bé và mẹ sẽ cùng làm một món ăn mang đến lớp để dự 
thi, bé tự giới thiệu tên, giá trị dinh dưỡng của món ăn đó. Kết thúc cuộc thi cho 
các bé liên hoan. Chủ đề: Động vật, Thực vật, Hiện tượng tự nhiên tìm hiểu về con vật nuôi 
trong gia đình, tìm hiểu con vật nào tôi cho trẻ quan sát con vật đó, sau đó tôi gợi 
mở cho trẻ nói lên hiểu biết của mình về con vật đó. Cuối cùng cô khái quát lại về 
đặc điểm, cấu tạo, màu sắc hình dáng, ích lợi của con vật đó. Khi tìm hiểu về cây 
tôi cho trẻ tự gieo trồng cây và chăm sóc, cho trẻ tự tìm hiểu đúng cây mà mình đã 
trồng, trẻ sẽ thích thú hơn. Cho trẻ khám phá một số hiện tượng tự nhiên tôi tiến 
hành một số thí nghiệm đơn giản: sự bay hơi ngưng tụ của nước, ánh sáng đối với 
cây 
 Khi cho trẻ khám phá các phương tiện giao thông tôi cho trẻ tìm hiểu về các 
loại phương tiện giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường hàng không, 
cô có thể cho trẻ làm kèn để giả làm tiếng kêu của các phương giao thông như: tàu 
hỏa, ô tô....
 Tóm lại việc xây dựng nội dung hoạt động khám phá hấp dẫn trẻ sẽ hứng thú 
tham gia hoạt động từ đó sẽ kích thích được trí tưởng tượng, tìm tòi và tò mò khám 
phá về thế giới xung quanh của trẻ.
 2.3.2. Giải pháp 2: Tạo môi trường cho trẻ hoạt động khám phá
 Môi trường hoạt động của trẻ là sự tổng hợp các mối quan hệ giữa môi trường 
thiên nhiên và môi trường xã hội. Môi trường hoạt động tạo cho trẻ cái nhìn toàn 
diện về thế giới xung quanh. Nó đem lại cho trẻ những tri thức tiền khoa học và trẻ 
đem những hiểu biết tích cực của mình tác động lại môi trường hoạt động. Từ đó 
mối quan hệ giữa con người và môi trường được hình thành từ thuở mẫu giáo.
 Do vậy, tạo môi trường hoạt động tốt là nhằm tạo cơ hội cho trẻ tìm tòi khám 
phá trải nghiệm củng cố những kiến thức đã lĩnh hội được trên tiết học, phát huy 
khả năng tư duy sáng tạo của trẻ. Ngoài ra còn giúp trẻ giảm bớt căng thẳng mệt 
mỏi trong quá trình học tập và cung cấp nhiều vốn kinh nghiệm trong cuộc sống 
cũng như ý thức tự lao động phục vụ. Tạo môi trường hoạt động cho trẻ khám phá 
còn hình thành ở trẻ những tình cảm đẹp đẽ tình yêu thương đối với trường lớp, cô giáo bạn bè và những kĩ năng cần thiết trong quá trình ứng xử giao tiếp với mọi 
người xung quanh.
 Môi trường hoạt động của trẻ là sự tổng hòa nhiều yếu tố như: Không gian, đồ 
chơi, thời gian, mối quan hệ giữa cô với trẻ, quan hệ giữa trẻ với trẻ Nhưng hai 
yếu tố nổi bật hơn cả đó là: Không gian hoạt động, đồ dung - đồ chơi.
 * Không gian hoạt động:
 Để có một môi trường thuận lợi và có tính khoa học cho kế hoạch học tập 
này, tôi phân công, hướng dẫn các cháu cùng cô tạo một “Khám phá trải nghiệm” 
riêng cho lớp bằng cách dọn dẹp, sắp xếp một góc lớp hoặc một hành lang trống. 
Chỉ cần một chiếc giá và một số dụng cụ do cô và cháu cùng làm là tạo ra một góc 
nghiên cứu riêng mà không va chạm với góc chơi nào. Khu vực góc chơi thiên 
nhiên sinh vật cảnh làm góc thí nghiệm khoa học. Tôi bố trí ngoài hành lang phía 
sau của lớp học để tận dụng lấy ánh sáng tạo môi trường phù hợp cho cây xanh 
phát triển và quang cảnh đẹp, có diện tích rộng cho trẻ hoạt động khám phá. Đây 
là một góc thí nghiệm riêng tư đối với một số trẻ hứng thú tham gia tìm tòi, nó vừa 
đẹp mắt lại vừa mang đậm tính khoa học khiến trẻ lớp tôi rất hứng thú và hào hứng 
chờ đợi những giờ hoạt động trải nghiệm.
 * Đồ dùng - đồ chơi:
 Đối với trẻ mầm non đồ chơi là nhu cầu tự nhiên không thể thiếu đối với cuộc 
sống của trẻ. Tuy nhiên, không phải ai cũng có tiền để mua hoặc mua được hết đồ 
chơi cho trẻ. Để thoả mãn hoạt động vui chơi của trẻ chúng ta có thể tự làm lấy đồ 
chơi cho trẻ. Ở trường mầm non muốn trẻ phát triển tốt thì cô giáo phải là người 
thể hiện tốt nhiệm vụ giáo dục của mình luôn linh động sáng tạo giúp trẻ thông qua 
chơi mà học. Trong quá trình giáo dục trẻ nói chung, tổ chức cho trẻ khám phá 
khoa học nói riêng. Giáo viên cần phải biết dạy cho trẻ khám phá cái gì? Khám 
phá như thể nào để đem lại kiến thức phục vụ cho hoạt động học, phục vụ cho sự 
phát triển tư duy của trẻ. Chúng ta đã biết tư duy của trẻ mầm non là thao tác với đồ vật, đồ chơi, vậy 
khi chơi ta phải có phương tiện chơi kèm theo đó chính là những đồ dùng, đồ chơi, 
nguyên học liệu phục vụ cho trò chơi mà trẻ chơi. Nếu thiếu đồ chơi, nguyên học 
liệu đó trẻ không thể thao tác được với vai chơi và tạo ra được sản phẩm trong quá 
trình chơi đó. Vì vậy đồ chơi càng phong phú bao nhiêu thì càng kích thích sự 
hứng thú và tạo sự ham muốn được khám phá mở mang kiến thức về thế giới xung 
quanh ở trẻ bấy nhiêu. Thông qua đồ chơi ở giờ hoạt động khám phá giúp trẻ rèn 
luyện trí nhớ, tính quan sát, kỹ năng phân biệt, so sánh, nhằm giúp trẻ khắc sâu 
kiến thức, trẻ hiểu thêm về nội dung bài học, phát triển trí tuệ ở trẻ một cách toàn 
diện.
 Với hoạt động khám phá khoa học không yêu cầu nhiều đồ dùng cầu kỳ như 
các môn học khác, môn khám phá khoa học lại cần chủ yếu là những nguyên liệu 
sẵn có, dễ kiếm và rẻ tiền như: vỏ hộp, vỏ chai nhựa, khay, túi ni lon, bọt biển, sỏi, 
đá, cát, các loại hạt Vì vậy khi giáo viên vận động phụ huynh và học sinh gom 
góp thêm phế liệu để phục vụ môn học được phụ huynh rất nhiệt tình hưởng ứng 
và ủng hộ cho lớp để các cháu chơi và hoạt động. Cô giáo và trẻ cùng nhau sửa và 
cắt dán trang trí thêm, thế là cô và cháu đã có cả một “Kho tàng” vật dụng vui mắt 
phục vụ cho các bài học một cách hiệu quả.
 2.3.3. Giải pháp 3: Cho trẻ tham gia trải nghiệm thực tế.
 Trong xã hội hiện đại khoa học đã có những bước tiến quan trọng vì vậy đối với 
trẻ việc trang bị cho tương lai hành trang kiến thức về thế giới xung quanh là rất cần 
thiết. Với trẻ mầm non thì trang bị những điều đơn giản, từ dễ đến khó, từ những sự 
vật xung quanh mà người lớn tưởng chừng là rất đơn giản ai cũng biết nhưng điều đó 
với trẻ nó lại là một điều thật kì diệu. Những thí nghiệm đơn giản, dễ tiến hành lại là 
những bài học cho trẻ dễ tiếp thu về thế giới xung quanh, từng bước đơn giản như thế 
trẻ sẽ khám phá được những bí ẩn xung quanh cuộc sống của trẻ. Dưới đây là một số 
thí nghiệm mà tôi và trẻ đã thực hiện tại lớp. Thí nghiệm 1: Thí nghiệm về nước và chất lỏng.
 * Mục đích: 
 - Trẻ biết phân biệt các lớp chất lỏng khác nhau: dầu, nước, sirô.
 - Trẻ nhận biết được lớp sirô nặng hơn nước nên chìm xuống dưới, lớp dầu 
nhẹ hơn nước nên nổi lên trên, còn lớp nước ở giữa.
 - Nhận biết được một số chất liệu như: nhựa, gỗ, bọt biển, xốp, kim loại... 
nổi ở chất lỏng nào: nước, sirô, dầu và rút ra kết luận.
 * Chuẩn bị: 
 - 1 chai dầu ăn,1 chai nước, 1 chai sirô.
 - 3 cốc thuỷ tinh, khay đựng.
 - Các vật liệu: cao su, sỏi, đồ nhựa, sắt, bọt biển, sốp.....
 - Các giấy màu đỏ, trắng, vàng.
 * Cách tiến hành
 + Bước 1:
 - Cho trẻ quan sát và gọi tên 3 chất lỏng: dầu, nước, sirô. 
 - Mỗi chất lỏng cô dùng 1 miếng giấy màu tương ứng với màu chất lỏng: đỏ, 
vàng, trắng.
 + Bước 2:
 - Cho trẻ chọn chất lỏng thứ 1 đổ vào cốc và chọn mảnh giấy có màu tương 
ứng gắn lên bảng.
 - Cô cho trẻ chọn chất lỏng thứ 2 và đổ vào cốc và cho trẻ dự đoán chuyện gì 
sẽ xảy ra khi đổ chất lỏng thứ 2 vào cốc. Chọn thẻ giấy có màu tương ứng gắn lên 
bảng. Cô cho trẻ quan sát xem chất lỏng thứ 2 nó ở vị trí nào trong cốc có giống 
như dự đoán của trẻ không. Với thí nghiệm này cô phải cho trẻ quan sát từng chất 
lỏng đổ vào một. Lúc đầu cho trẻ thử nghiệm 2 chất lỏng trước, khi trẻ đã biết dự 
đoán rồi cô mới tiến hành cho 3 chất lỏng vào cùng một cốc. - Tương tự cô chất lỏng thứ 3 vào. cô cho trẻ quan sát vị trí các chất lỏng có 
trong cốc và rút ra kết luận: lớp sirô nặng nhất nên ở phía đáy cốc, lớp nước nhẹ hơn 
sirô và nặng hơn lớp dầu ăn nên ở giữa và lớp dầu ăn nhẹ nhất nên ở trên.
 +Bước 3: 
 - Cho trẻ chia làm 2 nhóm , mỗi nhóm chọn vị trí xếp thẻ giấy màu khác với 
lúc đầu rồi mỗi nhóm sẽ đổ thứ tự các chất lỏng theo thẻ giấy đã chọn vào cốc 
cùng quan sát xem các chất lỏng đó có đứng đúng vị trí đó không?
 - Hai nhóm sẽ rút ra kết luận: dù đổ chất lỏng nào vào trước thì các chất lỏng 
nó vẫn đứng đúng theo thứ tự sirô, nước, dầu ăn. Nhiệm vụ của trẻ là phải gắn lại 
thẻ giấy màu đúng theo vị trí các chất lỏng trong cốc.
 * Mở rộng: 
 Cho trẻ thả một số vật: cao su, nhựa, gỗ, sắt ....vào chất lỏng và quan sát xem 
nó nổi hoặc chìm ở chất lỏng nào và từ đó rút ra kết luận.
 Thí nghiệm với chất lỏng này cô có thể tổ chức thông qua rất nhiều các chủ đề 
tuỳ thuộc vào chủ đề nào mà có thể tích hợp được thì giáo viên cho lồng ghép.
 Với chủ đề “Gia đình” cô có thể cho trẻ khám phá một số đồ dùng trong gia 
đình như: bát, thìa, ca, cốc, đũa.... cho trẻ thí nghiệm thả các vật dụng vào nước thì 
vật nào chìm và vật nào nổi có thể cho trẻ giải thích tại sao. Nếu trẻ không giải 
thích được cô có thể giải thích cho trẻ...
 Thí nghiệm 3: Cốc nước thần kỳ.
 * Mục đích:
 Cho trẻ biết nước là chất không mầu, không mùi, không vị. Nước chỉ bị thay 
đổi mùi vị khi ta pha vào nước những chất khác như: đường, muối, sữa, 
 * Chuẩn bị:
 - 4 cốc thủy tinh và 3 thìa.
 - Một chút đường, muối, một quả cam.
 * Cách tiến hành: - Cô rót nước đun sôi dể nguội vào bốn cốc nước có đánh dấu từ 1 đến 4. Cho 
trẻ quan sát, nếm, ngửi mùi và nhận xét xem nước có màu, mùi vị như thế nào? Và 
đoán xem nước có thay đổi như thế nào khi cô pha đường, muối, nước cam vào các 
cốc nước.
 - Cô pha đường, muối, cam lần lượt vào các cốc từ 1 đến 3. Sau đó cho trẻ 
nếm thử các cốc nước đã pha, cho trẻ nhận xét và so sánh với cốc 4 và cô giải thích 
sự thay đổi đó.
 * Giải thích và kết luận:
 Nước trong suốt không có mầu, mùi, vị. Đường có vị ngọt, khi hòa tan vào 
nước làm nước có vị ngọt. Muối có vị mặn nên khi hòa tan vào trong nước tạo cho 
nước có vị mặn, khi pha nước cam vào sẽ tạo cho nước có mùi cam và mầu da 
camm bảo an toàn cho trẻ và chú ý giáo dục trẻ khi người lớn sử dụng nước nong 
tại gia đình.
 Thí nghiệm 4: Những chiếc bát biết hát.
 * Mục đích:
 - Trẻ biết sự rung của nước và không khí tạo ra được âm thanh.
 - Phát triển thính giác cho trẻ.
 * Chuẩn bị: 
 - 7 bát sành giống nhau, nước, 1 chiếc đũa.
 * Cách tiến hành:
 - Cô cho trẻ quan sát và nói tên, công dụng của những chiếc bát.
 - Cho trẻ đoán xem cô sẽ làm gì với những chiếc bát này?
 - Cô đổ nước vào lần lượt từng bát. Lượng nước đổ vào bát khác nhau. 
 - Cho trẻ đoán xem nếu ta dùng đũa gõ vào bát thì sẽ có chuyện gì xảy ra?
 - Khi gõ đũa lên bát đã có nước sẽ nghe thấy tiếng kêu phát ra ở từng bát 
không giống nhau. Bát đổ ít nước thì kêu vang hơn bát đổ nhiều nước. Giải thích hiện tượng cho trẻ đó là sự dung của nước và không khí tạo ra tiếng 
âm thanh như những bản nhạc.
 Thí nghiệm 5: Điều kì diệu của ánh sáng:
 * Mục đích: Trẻ biết ánh sáng có thể tạo ra bóng của con người, con vật, đồ 
vật.
 * Chuẩn bị: Một con rối bằng bìa, đèn pin. 
 * Cách thực hiện: Tắt điện đóng cửa lớp lại tạo thành một phòng tối, đặt con 
rối ở giữa đèn pin (đặt gần đèn), bật đèn lên. Quan sát bóng trên tường. Đưa con 
rối ra xa đèn pin, quan sát sự thay đổi của bóng trên tường.
 Hiện tượng xảy ra: Đặt con rối ở gần đèn pin bóng của con rối trên bức tương 
lớn, đưa con rối ra xa đèn bóng nhỏ hơn.
 Kết luận: Càng gần ánh sáng thì bóng thu được càng lớn, càng xa ánh sáng 
bóng thu được càng nhỏ.
 2.3.4.Giải pháp 4: Sử dụng đồ dùng trực quan sinh động, lôi cuốn trẻ
 - Trẻ 3 tuổi khả năng chú ý của trẻ chưa cao, trẻ rất hứng thú với những điều 
mới lạ, vui vẻ, sôi nổi Như chúng ta đã biết, hoạt động khám phá khoa học là 
hoạt động khó và khô khan, ít gây hứng thú với trẻ bằng các môn học khác như: 
Văn học hay âm nhạc. Vì vậy việc gây hứng thú, tập trung chú ý rất quan trọng để 
trẻ lĩnh hội kiến thức của môn học tốt và dễ dàng. Cô có thể sử dụng hình thức tĩnh 
hoặc động để gây hứng thú tuỳ thuộc vào nội dung của bài mới để đan xen giữa 
hoạt động tĩnh và động tránh hoạt động nhiều gây mệt mỏi cho trẻ nghĩa là đảm 
bảo tính vừa sức.Việc gây hứng thú cho trẻ do giáo viên tự tổ chức có thể là đồ vật, 
cây, phương tiện giao thông, trò chơi, câu đố, bài ca dao đồng dao, có khi là bài 
hát, làm sao để gây được sự chú ý tốt nhất của trẻ và có liên quan đến nội dung 
hoạt động khám phá.
 Ở chủ đề: Trường mầm non tôi sử dụng các đồ vật để gây hứng thứ như : mô 
hình đồ chơi ngoài trời, một số đồ dùng dạy học ở trường mầm non hoặc có thể tích hợp các trò chơi dân gian: kéo co, tập tầm vông hoặc các bài hát quen thuộc: 
Cháu đi mẫu giáo, Vui đến trường...
 Với chủ đề Gia đình tôi gây hứng thú bằng hình ảnh gia đình, ảnh ngôi nhà 
,một số đồ dùng gia đình để trình chiếu, hay những câu đố vui, các trò chơi: tìm 
nhà, gia đình tôi các bài hát: ngôi nhà của tôi, cả nhà thương nhau 
 Còn chủ đề Động vật, Thực vật, Hiện tượng tự nhiên tôi gây hứng thú bằng 
cách mua một số con vật định cho trẻ khám phá vào lớp trẻ tự phát hiện ra và trẻ tự 
khám phá như con cua, con mèo, con thỏ gây hứng thú bằng thời tiết, mưa nắng, 
rét gây hứng thú bằng lá, bằng cây hay một số trò chơi mới: Con nhện giăng 
tơ 
 Chủ đề về Môi trường xã hội: gây hứng thú bằng dụng cụ của các nghề, sản 
phẩm, tiếng còi, tiếng động của các phương tiện giao thông. Có thể sử dụng các bài 
hát: Đoàn tàu nhỏ xíu, Em làm chú bộ đội các trò chơi làm tiếng còi, kéo cưa lửa 
xẻ, trò chơi taxi.... 
 Ở chủ đề “Quê hương đất nước” tôi sử dụng một số hình ảnh, đoạn băng 
video về Bác Hồ, các danh lam thắng cảnh đẹp tiêu biểu về đất nước Việt Nam: 
Vịnh Hạ Long, Hòn Trống Mái, Hồ Gươm, Lăng Bác... và cho trẻ tìm hiểu về ngày 
hội ngày lễ của địa phương mình như: Lễ hội đền Gióng.....
 => Kết luận: Với những nội dung khám phá bất ngờ trẻ sẽ hứng thú và tích 
cực tham gia hoạt động khám phá do cô tổ chức từ đó trẻ sẽ tích lũy được một số 
kiến thức đơn giản về thế giới xung quanh.
 2.3.5. Giải pháp 5: Tạo tình huống và câu hỏi gợi mở sau mỗi giờ học.
 * Giờ đón trẻ và trả trẻ.
 Tôi chào hỏi, trò chuyện với trẻ tạo tâm thế tốt cho trẻ. Đặc biệt là trò chuyện 
về chủ đề đang tiến hành. Tạo điều kiện quan tâm tới các bạn về ăn mặc, đầu tóc. Mở chủ đề tôi hướng trẻ vào quan sát, hỏi trẻ về chủ để kích thích sự khám phá tìm 
tòi của trẻ.
 Ví dụ : Trong chủ nghề nông tôi cho trẻ tìm hiểu về sản phẩm của nghề nông ( 
bắp ngô) tôi trò chuyện cùng trẻ bắp ngô có những bộ phận nào? Cho trẻ trải 
nghiệm bóc bẹ ngô, tách từng hạt ngô Trẻ hứng thú tham gia hoạt động.
 Đối với phụ huynh tôi nhờ phụ huynh sưu tầm tranh ảnh, vật thất và tích lũy 
kiến thức cho trẻ về chủ đề đang học.
 * Qua hoạt động ngoài trời.
 Dạo chơi thăm quan hoạt động ngoài trời, không những để trẻ khám phá thế 
giới xung quanh mình. Trong quá trình dạo chơi ngoài trời trẻ có điều kiện tiếp xúc 
với môi trường tự nhiên và xã hội. Qua đó tôi còn giáo dục tình yêu thiên nhiên, ý 
thức bảo vệ môi trường. Tôi cũng luôn chú ý kiến thức xã hội với trẻ về công việc 
của mỗi người, về mối quan hệ giữa con người với nhau, đặc biệt là giáo dục bảo 
vệ môi trường. Với trẻ mặc dù kiến thức rất đơn giản tạo cho trẻ thói quen vứt rác 
đúng nơi quy định và ý thức bảo vệ môi trường xanh sạch đẹp. Qua đó giáo dục trẻ 
những hình ảnh chân thực về thế giới khách quan, giúp trẻ tích lũy kiến thức và 
ứng dụng trong thực tế. Đồng thời giúp trẻ Tăng cường sức khỏe và thể lực, tích 
cực vận động. Với hoạt động này tôi cho trẻ quan sát, trải nghiệm, thí nghiệm, lao 
động. Tổ chức chơi trò chơi vận động và chơi tự do. Những hoạt động này trẻ rất 
hứng thú
 Cụ thế khi thăm quan vườn rau, trẻ tưới cây, nhặt lá, bắt sâu. Đặc biệt trẻ được 
chơi nhiều đồ vật thật, khi được hoạt động nhiều với đồ vật thật, trẻ được nhìn, sờ, 
nắm, ngửi .Từ đó có hình ảnh chọn vẹn về những gì xung quanh trẻ, không thế 
tôi còn phát huy tính sáng tạo của trẻ bằng cách cho trẻ làm tranh từ nguyên liệu 
thiên nhiên như : Hoa, lá ép khô, vỏ cây, vỏ ngao 
 Qua các buổi dạo chơi, thăm quan, hoạt động ngoài trời, khi trẻ quan sát tôi 
hướng trẻ sử dụng mọi giác quan để trẻ chỉ ra chọ vẹn đối tượng đó. Ví dụ : Cho trẻ quan sát câyTrầu Bà, hướng trẻ nhận xét các bộ phận của cây. 
Cho trẻ sờ lá mịn và nhẵn, hình dạng của lá. 
 * Qua hoạt động góc 
 - Đây cũng là một hoạt động cho trẻ khám phá khoa học. Là cơ hội cho trẻ 
ứng dụng kiến thức kinh nghiệm vào các trò chơi như đóng vai, xây dựng, thiên 
nhiên, thư viện, học tập, tạo hình.
 Ví dụ : Góc phân vai cho trẻ đóng vai bác sỹ trẻ thao tác như một bác sỹ biết 
khám bệnh cho bệnh nhân biết hành động như bác sỹ hay góc xây dựng thông qua 
trò chơi ở góc trẻ được khám phá, trải nghiệm vào vai như những cô chú công nhân 
để xây lên công trình xây dựng theo chủ đề.
 * Qua giờ ăn, ngủ.
 - Trò chuyện về tên gọi, công dụng, chất liệu, sự đa dạng của đồ dùng. Giới 
thiệu món ăn. Nhắc trẻ hành vi thói quen văn minh trong ăn uống.
 - Tương tự giờ ngủ cúng hỏi trẻ tên gọi, công dụng của đồ dùng. Giải thích vì 
sao phải sử dụng đồ dùng để ngủ. Hát ru cho trẻ ngủ hoặc kể chuyện có nội dung 
nhẹ nhàng lôi cuốn.
 2.3.6. Giải pháp 6: Ứng dụng công nghệ thông tin tích hợp vào công tác 
giảng dạy.
 Trong thời đai công nghệ thông tin phát triển vượt trội như thời đại hiện nay, 
sự phát triển của hệ thống mạng cùng những tiện ích, ứng dụng phong phú đã tạo 
nên một cuộc cách mạng trong mọi người, mọi ngành và đặc biệt là giáo dục. 
Chính vì vậy ngay từ cấp học mầm non trẻ đã được làm quen với công nghệ thông 
tin như một phần của hoạt động giáo dục không thể thiếu( chuyên đề công nghệ 
thông tin). Không chỉ với người lớn mà đối với trẻ em mầm non thì công nghệ 
thông tin luôn mang lại nhiều điều kì thú và hữu ích trong việc tiếp thu kinh 
nghiệm sống. Hơn nữa trong việc giáo dục, truyền đạt kiến thức cho trẻ không phải sự vật 
hiện tượng cũng có sẵn để trẻ được trực tiếp tri giác, nhất là với hoạt động khám 
phá khoa học như là tìm hiểu về động vật sống dưới biển, quan sát máy bay, các 
hiện tượng tự nhiên, ., hay chúng ta không có thời gian để chứng kiến những hiện 
tượng trong tự nhiên xảy ra như tìm hiểu về cách sinh sản của một số loài vất nuôi, 
quá trình phát triển của cây .chính vì vậy để trẻ tìm hiểu về thế giới xung quanh 
một cách bao quát nhất thì ứng dụng công nghệ thông tin vào tiết học là một việc 
cần thiết.
 - Là một giáo viên trẻ và có khả năng ứng dụng công nghệ thông tin cũng 
thành thạo nên tôi thường xuyên sử dụng công nghệ thông tin như các bài giảng 
powerpoint vào các tiết học giúp trẻ vừa được giải trí và cũng là khi lượng kiến 
thức cần cung cấp cho trẻ đảm bảo với hình thức này.
 =>Kết luận : Tôi nhận thấy sử dụng công nghệ thông tin vào các tiết học 
khám phá khoa học trẻ tỏ ra rất hòa hứng, thích thú và cũng giúp trẻ nhận biết sự 
vật- hiện tượng một cách rõ ràng hơn.
 2.3.7. Giải pháp 7: Phối kết hợp tuyên truyền với phụ huynh.
 Cho trẻ làm quen với hoạt động khám phá khoa học chỉ có thể đạt hiệu quả 
nếu có sự phối hợp tích cực giữa gia đình và nhà trường. Phối hợp nhằm nâng 
cao hiểu biết cho phụ huynh, thống nhất yêu cầu, nội dung, phương pháp giáo 
dục, tạo ra các điều kiện giáo dục cần thiết ở trường và gia đình. Trên thực tế từ 
trước tới nay các cô giáo chỉ trao đổi với phụ huynh về tình hình sức khỏe, kết 
quả học tập của trẻ mà không bao giờ phối hợp với phụ huynh để đưa ra phương 
pháp cùng dạy trẻ để đạt được kết quả tôt nhất. Phụ huynh thường không biết ở 
trường trẻ học những gì và học như thế nào để về nhà chia sẻ với trẻ. Lúc này 
trẻ sẽ là cầu nối giữa gia đình và cô giáo. Việc giao nhiệm vụ về nhà cho trẻ tìm 
hiểu trước để khám phá sẽ tạo cho trẻ một hứng thú nhất định và tạo cho trẻ một 
thói quen hằng ngày chia sẻ với bố mẹ những gì đã được học ở trên lớp. Trước và sau mỗi hoạt động khám thì giáo viên yêu cầu trẻ về nhà hỏi bố mẹ hoặc xem 
ti vi ......lặp lại nhiều lần sẽ tạo cho trẻ một thói quen tốt. Đặc biệt là ở lứa tuổi 3 
- 4 tuổi thì sự quan tâm của phụ huynh chỉ là sự quan tâm vầ thể chất như hôm 
nay chú có ngoan không, cháu có ăn được không .... Từ thực tế đó, tôi đã tuyên 
truyền với phụ huynh về tầm quan trọng trong hoạt động khám phá để phát triển 
nhận thức và trí tuệ cho trẻ. Giáo viên cùng kết hợp với phụ huynh đưa ra các 
biện pháp và tình huống nhằm kích thích trẻ hoạt động. 
 VD: Cho trẻ tìm hiểu về bắp ngô. Tôi trao đổi với phụ huynh ngày mai sẽ 
mua cho các con mỗi bạn 1 bắp ngô để cho con tìm hiểu xem bắp ngô có những bộ 
phận nào.
 Trao đổi để phụ huynh tích cực tạo ra các tình huống cho trẻ được hoạt động 
khi ở nhà để tạo cho trẻ sự hứng thú tìm tòi của trẻ. Phối hợp với phụ huynh đưa ra 
những câu hỏi đòi hỏi trẻ trẻ phải tìm tòi để trẻ lời. Nhắc nhở phụ huynh không nên 
quát mắng hoặc trả lời cho xong những câu hỏi tại sao của trẻ. mà nên giải thích rõ 
cho trẻ biết hoặc cùng làm một thí nghiệm nhỏ, đơn giản mà mình có thể làm được.
 2.4. Hiệu quả và ứng dụng
 * Hiệu quả
 Sáng kiến kinh nghiệm này được áp dụng tại lớp 3 - 4 tuổi trường mầm non đã 
đạt một số kết quả như sau:
 * Đối với giáo viên:
 - Giáo viên có ý thức tự giác trong việc tự bồi dưỡng, nâng cao trình độ 
chuyên môn thông qua sách, báo, tài liệu, mạng internet và học hỏi kinh nghiệm 
của chị em đồng nghiệp.
 - Mỗi giáo viên đã xây dựng được kế hoạch tổ chức hoạt động khám phá cho 
từng hoạt động trong 1 năm học, phù hợp với điều kiện lớp hoc và nhận thức của 
trẻ. Từ đó đề ra những giải pháp thích hợp để thực hiện. - Linh hoạt sử dụng các đồ dùng dụng cụ trực quan giúp cho trẻ đỡ nhàm chán 
và làm tăng sự tích cực hoạt động của trẻ.
 - Luôn biết khuyến khích, động viên, tạo cho trẻ niềm say mê hoạt động và 
sáng tạo.
 - Thường xuyên trao đổi với phụ huynh học sinh về tình hình của trẻ tại lớp, 
kêu gọi sự ủng hộ giúp đỡ của các bậc phụ huynh để bổ xung thêm đồ dùng đồ 
chơi cho trẻ.
 * Đối với trẻ: 
 Khi mới vào học và tổ chức hoạt động khám phá cho trẻ tại lớp tôi nhận thấy 
trẻ còn chưa mạnh dạn, nhiều trẻ nhút nhát, thiếu tự tin, sau 1 thời gian áp dụng 
một số giải pháp nêu trên tôi thấy trẻ hào hứng tham gia hoạt động khám phá và 
chủđộng dưới sự hướng dẫn của giáo viên. Trẻ say mê và sôi nổi hơn, không còn 
nhút nhát như lúc đầu.
 Kết quả đối chứng
 Trước khi Sau khi thực 
 thực hiện hiện
 STT Nội dung
 Số trẻ Tỉ lệ Số trẻ Tỉ lệ
 đạt % đạt %
 1 Kỹ năng quan sát 20/44 45,4 43/44 97,7
 Sử dụng các giác quan để xem 
 2 xét, tìm hiểu đối tượng: nhìn, 18/44 40,1 41/44 93,2
 nghe, ngửi, sờ
 Phân loại các đối tượng theo 
 3 17/44 38,6 40/44 90,1
 dấu hiệu nổi bật
 * Ứng dụng

File đính kèm:

  • docxskkn_mot_so_giai_phap_nang_cao_chat_luong_hoat_dong_kham_pha.docx