SKKN Rèn kỹ năng tự phục vụ cho trẻ lớp mẫu giáo 4-5 tuổi B2, trường Mầm non Đa Mai (GV: Lương Thùy Linh)
Bạn đang xem tài liệu "SKKN Rèn kỹ năng tự phục vụ cho trẻ lớp mẫu giáo 4-5 tuổi B2, trường Mầm non Đa Mai (GV: Lương Thùy Linh)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
Tóm tắt nội dung tài liệu: SKKN Rèn kỹ năng tự phục vụ cho trẻ lớp mẫu giáo 4-5 tuổi B2, trường Mầm non Đa Mai (GV: Lương Thùy Linh)
Rèn kỹ năng tự phục vụ cho trẻ lớp mẫu giáo 4-5 tuổi B2, trường Mầm non Đa Mai PHẦN A. ĐẶT VẤN ĐỀ Trong xã hội hiện nay, tình trạng trẻ ỉ lại, thụ động vào người lớn, chưa biết làm một số việc tự phục vụ bản thân hoặc không làm được một số công việc nhẹ nhàng, vừa sức để giúp đỡ người lớn đang diễn ra khá phổ biến. Điều đó cũng xuất phát từ tâm lý e ngại của cha mẹ. Với suy nghĩ trẻ nhỏ chưa thể làm được mọi thứ, sợ trẻ làm sai, cha mẹ không đủ kiên nhẫn chờ đợi trẻ, dẫn đến việc cha mẹ làm hộ trẻ tất cả mọi việc mà lẽ ra việc đó trẻ có thể tự làm được. Với ý nghĩa đó, tôi nhận thấy việc giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ mầm non nói chung và trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi nói riêng là một việc làm hết sức cần thiết và có ý nghĩa. Nếu không có kỹ năng tự phục vụ trẻ sẽ không thể chủ động và tự lập trong cuộc sống. Trẻ sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc thích nghi với môi trường trong trường mầm non. Đặc biệt, trước tình hình dịch bệnh Covid còn diễn biến phức tạp như hiện nay, người lớn càng phải trang bị cho trẻ những kỹ năng tự phục vụ bản thân. Hãy làm tốt vai trò của người hỗ trợ để trẻ hình thành kỹ năng tự phục vụ một cách hiệu quả nhất. Đó cũng chính là lý do thúc đẩy tôi thực hiện đề tài “Biện pháp rèn kỹ năng tự phục vụ cho trẻ lớp mẫu giáo 4-5 tuổi B2, trường Mầm non Đa Mai”. PHẦN B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 1. Thực trạng 1.1. Ưu điểm: Được Ban giám hiệu luôn quan tâm và tạo điều kiện để giáo viên hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao. Các bậc phụ huynh luôn quan tâm đến con cái nên thường xuyên trao đổi với giáo viên tình hình của các con. Là giáo viên trẻ, nhiệt tình trong công tác, thường xuyên học hỏi kinh nghiệm của đồng nghiệp. 1.2. Tồn tại, hạn chế và nguyên nhân 1.2.1. Giáo viên Chưa xây dựng được môi trường giáo dục kỹ năng sống cho trẻ, ở góc kỹ năng sống đồ dùng, đồ chơi để cho trẻ thực hiện các kỹ năng còn ít, chưa đa dạng phong phú; chưa chú ý đến việc rèn các kỹ năng tự phục vụ ở mọi lúc mọi nơi, chưa làm tốt công tác phối hợp với các bậc phụ huynh trong công tác phối hợp rèn kỹ năng tự phụ vụ cho trẻ. * Nguyên nhân: Bản thân chưa linh hoạt sáng tạo trong việc xây dựng môi trường và làm các đồ dùng, đồ chơi và chưa có kỹ năng lồng ghép dạy, rèn kỹ năng tự phục vụ trong các hoạt động trong sinh hoạt hàng ngày. 1.2.2. Trẻ em Trẻ còn thụ động, chưa biết các kỹ năng cơ bản khi sinh hoạt và học tập ở lớp, chưa có nền nếp tốt, chưa tự làm được một số kỹ năng đơn giản tự phục vụ bản thân, nhiều trẻ chưa biết chơi với các bạn trong nhóm. Nguyên nhân của những hạn chế này là do có trẻ mới đi học, một số trẻ được ông bà bố mẹ chiều chuộng, thường hay làm hộ trẻ khi ở nhà. * Bảng theo dõi đánh giá trẻ về nội dung thực hiện được một số kỹ năng tự phục vụ: Ngay từ đầu năm tôi đã tiến hành theo dõi và đánh giá trẻ lớp tôi về nội dung một số kỹ năng tự phục vụ và kết quả thu được như sau: Trước khi áp dụng biện pháp Nội dung theo dõi, đánh giá trẻ Trẻ đạt/tổng số Tỷ lệ % Kỹ năng tự rửa tay bằng xà phòng 12/24 50% Kỹ năng tự lau mặt 12/24 50% Kỹ năng tự đánh răng 10/24 41,7% Kỹ năng tự thay quần áo khi bị ướt, bẩn 5/24 20,8% Kỹ năng tự cầm bát, thìa xúc ăn gọn gàng, không 10/24 41,7% rơi vãi, đổ thức ăn Kỹ năng xếp dọn đồ đạc cá nhân 14/24 58,3% Kỹ năng xếp gọn đồ đạc chung của lớp 12/24 50% Kỹ năng sử dụng nhà vệ sinh 9/24 37,5% 1.2.3. Phụ huynh Một số phụ huynh chưa thực sự quan tâm đến việc dạy trẻ tự chăm sóc bản thân. Một số phụ huynh còn hiểu nhầm dạy trẻ kỹ năng tự phục vụ là bắt con làm việc quá sớm, nên phản đối việc phối hợp với giáo viên cùng dạy trẻ. 2. Biện pháp 2.1. Biện pháp 1: Xác định rõ kỹ năng tự phục vụ cần dạy trẻ ở lớp 2.1.1. Nội dung biện pháp: Xác định rõ những kỹ năng năng tự phục gì cần dạy cho trẻ 2.1.2. Cách thức, quá trình áp dụng biện pháp Thực hiện chương trình giáo dục mầm non, dựa theo nội dung và kết quả mong đợi về việc thực hiện được một số việc tự phục vụ trong sinh hoạt của trẻ mẫu giáo 4 –5 tuổi, thực hiện việc theo dõi đánh giá trẻ ở một số nội dung đánh giá lĩnh vực giáo dục phát triển thể chất cho trẻ mẫu giáo 4 – 5 tuổi. Theo nghiên cứu tài liệu: Bồi dưỡng hè cho cán bộ quả lý và giáo viên mầm non tôi đã xác định được những kỹ năng tự phục vụ cho trẻ mẫu giáo 4 – 5 tuổi đó là: Chương trình giáo dục Mầm non + Kỹ năng tự rửa tay bằng xà phòng + Kỹ năng tự lau mặt + Kỹ năng tự đánh răng + Kỹ năng tự thay quần áo khi bị ướt, bẩn + Kỹ năng tự cầm bát, thìa xúc ăn gọn gàng, không rơi vãi, đổ thức ăn + Kỹ năng xếp dọn đồ đạc cá nhân + Kỹ năng xếp gọn đồ đạc chung của lớp + Kỹ năng sử dụng nhà vệ sinh Phiếu theo dõi đánh giá sự phát triển của Tài liệu bồi dưỡng hè cho cán bộ quản lý trẻ mẫu giáo 4 – 5 tuổi và giáo viên Mầm non 2.1.3. Kết quả áp dụng biện pháp: Bản thân đã xác định đúng và rõ ràng các kỹ năng cần dạy cho trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi. 2.2. Biện pháp 2: Tạo môi trường giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ 2.2.1. Nội dung biện pháp: Trang trí môi trường lớp học thân thiện, theo hướng lấy trẻ làm trung tâm. Vì môi trường học tập là nơi trẻ tiếp xúc hàng ngày. 2.2.2. Cách thức, quá trình áp dụng biện pháp Thực tế lớp tôi đã được nhà trường trang bị đầy đủ cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học song hình thức trang trí ở các góc, còn đơn giản, mảng tường vẫn còn đơn điệu chưa thực sự hấp dẫn kích thích được sự tò mò ham hiểu biết và chưa phát huy được tính tích cực khi tham gia vào các hoạt động của trẻ. Trước yêu cầu thực tế trong quá trình giảng dạy tôi nhận thấy để trẻ học tập tốt thì phải xây dựng môi trường giáo dục tốt nhất. Nên ngay từ đầu năm học tôi và đồng nghiệp ở cùng lớp đã tiến hành trang trí lớp đẹp, phù hợp với chủ đề, phù hợp với trẻ theo quan điểm lấy trẻ làm trung trung tâm. Tôi đã chủ động xây dựng góc kỹ năng sống phong phú như: Kỹ năng buộc dây giày, kỹ năng tự đánh răng, kỹ năng kéo tuya, kỹ năng cài khuy áo, thắt nơ, kỹ năng đan, tết Hình ảnh: Giáo viên đang làm đồ dùng và trang trí lớp học. Ở các khu vực trẻ đề dùng cá nhân như: ba lô, giá dép tôi cũng sử dụng các bảng nội quy để hướng dẫn trẻ cách cất ba lô và xếp giầy, dép đúng nơi quy định. Tại khu vực nhà vệ sinh tôi cũng trang trí các hình ảnh sinh động, đẹp mắt và các hình ảnh hướng dẫn trẻ cách sử dụng nhà vệ sinh để trẻ quan sát vào đó và biết được cách đi vệ sinh đúng cách. Nội quy hướng dẫn sử dụng nhà vệ sinh cho trẻ Ngoài ra khu vực rửa tay tôi thiết kế một bảng gồm các bước theo quy trình có hình ảnh minh hoạ cụ thể, dễ hiểu dán trên tường gần vòi rửa tay để khi nào trẻ quên có thể nhìn lên và làm theo khi trẻ đạt được 100% theo yêu cầu các bước rửa tay đúng cách. Hình ảnh: Trẻ rửa tay ở khu vực rửa tay của lớp mình. 2.2.3. Kết quả áp dụng biện pháp: Sau khi áp dụng biện pháp này 100% trẻ được vui chơi ở các góc theo cách thức “Học bằng chơi, chơi bằng học”. Trẻ có nhiều cơ hội thực hành, có nhiều lựa chọn hoạt động, các bài tập theo hứng thú của mình. Thông qua các kỹ năng trẻ sẽ rèn luyện được một số kĩ năng tự phục vụ. 2.3. Biện pháp 3: Dạy trẻ những thói quen tự phục vụ, nền nếp vệ sinh 2.3.1. Nội dung biện pháp: Dạy trẻ một số kỹ năng tự phục vụ, rèn nền nếp thói quen cho trẻ thông qua một số hoạt động hàng ngày như: Hoạt động lao động, vệ sinh, hoạt động ngoài trời, hoạt động góc... 2.3.2. Cách thức, quá trình áp dụng biện pháp Tôi đã tiến hành rèn kỹ năng tự phục phụ thông qua các hoạt động của trẻ trong sinh hoạt hàng ngày như sau: + Dạy trẻ kỹ năng tự phục vụ thông qua việc nhận biết, phân biệt đồ dùng cá nhân của mình. Hình ảnh: Trẻ thực hiện kỹ năng rửa mặt. Với các đồ dùng cá nhân của trẻ như: Sách, vở cốc uống nước, khăn mặt, bút sáp, đất nặn tủ đề dùng cá nhân của tôi đều dán ký hiệu riêng cho từng trẻ để trẻ có thể tự nhận biết và tự lấy, tự cất một cách dễ dàng. Tôi đã hướng dẫn trẻ lớp tôi nhận biết và phân biệt một số đồ dùng cá nhân của trẻ như: khăn mặt, cốc uống nước, ghế ngồi, sáp màu, đất nặn, sách, vở, ngăn tủ... Khi trẻ đã nhận biết được đồ dùng cá nhân thì trẻ sẽ biết dùng đồ dùng có kí hiệu riêng của mình mà không dùng nhầm với đồ dùng có kí hiệu của bạn khác. Từ đó sẽ tránh lây nhiễm các bệnh: Như đau mắt, chân tay miệng, thủy đậu đặc biệt, trong thời gian gần đây dịch bệnh COVID-19 đang diễn ra rất phức tạp thì đây chính là biện pháp rất hữu hiệu để phòng, chống dịch bệnh. Đây là kỹ năng cơ bản mà trẻ phải ghi nhớ và thực hiện được nó, để thực hiện được những kỹ năng này tôi luôn cho trẻ thực hiện hằng ngày và chú ý rèn kỹ năng cho trẻ tạo thành thói quen đúng như trong chế độ sinh hoạt ở trường mầm non. + Dạy trẻ kỹ năng tự phục vụ thông qua giờ hoạt động lao động, vệ sinh Trong các buổi hướng dẫn lao động vệ sinh vào buổi chiều tôi thường xuyên tổ chức dạy, ôn luyện cho trẻ những kỹ năng tự phục vụ. Từ đó, hình thành và củng cố các kỹ năng, thói quen cho trẻ một cách thuần thục hơn. Ví dụ: Vào chiều thứ 3 hàng tuần tôi tập trung và rèn luyện cho trẻ những kỹ năng vệ sinh như: Rửa mặt, rửa tay, chải đầu, đánh răng Vào chiều thứ 5 hàng tuần tôi tập chung rèn cho trẻ một số hoạt động lao động tự phục vụ như: Gấp quần áo, gấp chiếu, xếp ghế, cất ba lô Hình ảnh: Cô giáo hướng dẫn trẻ cách gấp áo gọn gàng. Hình ảnh: Cô giáo hướng dẫn trẻ gấp chiếu. + Thông qua hoạt động đón, trả trẻ: Trong hoạt động đón, trả trẻ giáo viên vừa giao tiếp với trẻ, với phụ huynh đồng thời cũng quan sát những hành động, kỹ năng của trẻ từ đó có những uốn nắn kịp thời cho trẻ. Ví dụ: Trong giờ đón trẻ, lớp tôi có trẻ đến cửa lớp cất dép và cất ba lô lên giá nhưng không đúng, ba lô để xộc xệch trong tủ, giày dép chiếc trái chiếc phải trông không đẹp mắt chút nào. Đối với trường hợp như vậy tôi đã xử lý như sau: Tôi đã lại gần trẻ nhắc nhở: Con để chưa đẹp rồi, con để lại đi. Sau đó tôi hỏi thêm con nói cho cô biết các bước cất ba lô, trẻ nói xong cô bổ sung và nhắc lại các bước để trẻ nhớ và cho trẻ làm lại. Ví dụ: Các bước xếp dép: Bước 1: Bé cởi dép Bước 2: Bé cầm dép Bước 3: Bé xếp dép lên giá Hình ảnh: Cô giáo hướng dẫn trẻ tự xếp dép lên giá. + Dạy cho trẻ các kỹ năng tự phục vụ thông qua giờ hoạt động vui chơi ở các góc. Vui chơi - nhất là trò chơi phân vai chính là một hoạt động phản ánh thực cuộc sống xã hội thu nhỏ. Khi tham gia chơi thì trẻ được đứng ở vị trí chủ thể của hành động chơi, trẻ có thể được tự mình quyết định làm lấy những gì mà mình thích chứ không phải là những gì người khác ép buộc. Hơn bất cứ hoạt động nào, trong trò chơi, trẻ được thể hiện khả năng tự lập của mình. Trẻ luôn luôn mong muốn mình được tự giải quyết lấy mọi tình huống, chúng có xu hướng tự hoạt động mà không cần sự giúp đỡ của ai. Trẻ tự tiến hành trò chơi và chơi một cách vui vẻ. Khi chơi ở các góc trẻ thể hiện các vai chơi, đóng làm người lớn, bắt chước làm những công việc của người lớn. Cũng chính khi chơi trẻ “bộc lộ” sự sáng tạo và rèn được những kỹ năng. Hình ảnh: Cô giáo hướng dẫn trẻ cất đồ chơi gọn gàng, đúng nơi quy định. Hoạt động vui chơi không chỉ ảnh hưởng đến sự hình thành tính chủ định, phát triển tư duy, trí tưởng tượng, ngôn ngữ, tâm lý cũng như đời sống tình cảm mà thông qua trò chơi thì những phẩm chất ý chí của trẻ cũng được hình thành như: Tính mục đích, tính kỷ luật, tính dũng cảm, tính tự lập Trong giờ hoạt động góc, sau khi kết thúc giờ chơi tôi thường hướng dẫn trẻ tự cất đồ dùng, đồ chơi gọn gàng đúng nơi quy định. + Rèn kĩ năng tự phục vụ cho trẻ thông qua giờ hoạt động ngoài trời. Hoạt động ngoài trời là một hoạt động trẻ được tự do hòa mình với thiên nhiên, với môi trường xung quanh. Thông qua hoạt động ngoài trời, giáo viên sẽ cung cấp cho trẻ những kỹ năng tự phục vụ. Trong quá trình khi trẻ tham gia hoạt động có chủ đích cùng cô giáo viên có thể dễ dàng lồng ghép giáo dục và củng cố các kỹ năng tự phục vụ vào quá trình hoạt động của trẻ như nhặt lá, tưới cây, hái rau trong vườn trường... Từ đó tôi đánh giá được việc ứng dụng kỹ năng mà cô dạy vào trong thực tế của trẻ đến đâu. Trong quá trình chơi và hoạt động tự chọn, nhắc nhở trẻ biết bảo quản, giữ gìn đồ chơi, tự rửa đồ chơi sau khi chơi xong, thu dọn cất đồ dùng, đồ chơi vào đúng nơi quy định. Khi vào lớp, yêu cầu trẻ tự cất giày dép đúng nơi quy định, tự rửa tay, lau mặt, nghỉ vài phút để chuẩn bị cho hoạt động tiếp theo. Ngoài ra sau khi tham gia hoạt động ngoài trời tôi cho trẻ xếp hàng rửa tay sau khi chơi và tự cất dép lên giá hàng ngày trẻ được thực hiện thường xuyên lặp đi lặp lại sẽ trở thành kỹ năng thuần thục. Hình ảnh: Trẻ rửa tay sau khi tham gia chơi hoạt động ngoài trời. + Giáo dục kỹ năng tự phục vụ qua giờ vệ sinh ăn trưa. Hoạt động vệ sinh, ăn trưa: Là một hoạt động không thể thiếu ở trường mầm non. Bên cạnh việc giáo dục tri thức, thẩm mỹ, thể chất cho các con tại trường mầm non, việc giáo dục các con về các vấn đề vệ sinh cũng là việc hết sức quan trọng. Rèn luyện những thói quen vệ sinh và hành vi văn minh cho trẻ mẫu giáo đó là nhiệm vụ rất cần thiết. Việc hiểu và nắm vững kiến thức vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường sống sẽ giúp cơ thể trẻ phát triển tốt, chống đỡ được các bệnh tật, đồng thời hình thành những thói quen cơ bản để giúp trẻ có nhiều nề nếp tốt. Có rất nhiều hoạt động ở trường mà các giáo viên có thể thông qua đó để giáo dục dạy trẻ về kỹ năng vệ sinh. Đó là những điều rất đơn giản, thường gặp hàng ngày như tự rửa mặt, rửa tay trước khi ăn, kê bàn, lấy bát, thìa Tôi hướng dẫn và cho trẻ kỹ năng rửa mặt, rửa tay trước khi ăn. Lớp tôi có 2 giáo viên, chúng tôi phân công một cô quan sát trẻ lau mặt, rửa tay sạch sẽ trước khi ăn, cô còn lại chuẩn bị và hướng dẫn một số trẻ trực nhật bữa ăn. Hoặc có hôm tôi phân công một bạn trong lớp quan sát các bạn khác rửa tay, lau mặt và phân công một số bạn trực nhật bữa ăn. Sau khi trẻ ăn xong, tôi cho trẻ tự cất ghế về đúng nơi quy định, lấy khăn lau miệng và uống nước, xúc miệng nước muối loãng. Tôi cho trẻ tự lấy gối và vào chỗ nằm, cô kể chuyện cho trẻ nghe và cho trẻ đi ngủ. Sau khi trẻ ngủ dậy tôi cho trẻ tự đi vệ sinh, rửa tay sạch sẽ, lau mặt và cho trẻ ăn phụ. Hình ảnh: Trẻ kê bàn giúp cô giáo để chuẩn bị giờ ăn trưa. 2.3.3. Kết quả áp dụng biện pháp: Khi chưa áp dụng Sau khi áp dụng Nội dung theo dõi, đánh giá trẻ biện pháp biện pháp Kỹ năng tự rửa tay bằng xà phòng 12/24 = 50% 24/24 = 100% Kỹ năng tự lau mặt 12/24 = 50% 24/24 = 100% Kỹ năng tự đánh răng 10/24 = 41,7% 20/24 = 83,3% Kỹ năng tự thay quần áo khi bị ướt, bẩn 5/24 = 20,8% 18/24 = 75% Kỹ năng tự cầm bát, thìa xúc ăn gọn gàng, 10/24 = 41,7% 24/24 = 100% không rơi vãi, đổ thức ăn Kỹ năng xếp dọn đồ đạc cá nhân 14/24 = 58,3% 24/24 = 100% Kỹ năng xếp gọn đồ đạc chung của lớp 12/24 = 50% 24/24 = 100% Kỹ năng sử dụng nhà vệ sinh 9/24 = 37,5% 24/24 = 100% 2.4. Biện pháp 4: Phối kết hợp với phụ huynh học sinh 2.4.1. Nội dung biện pháp Tuyên truyền, phối hợp với phụ huynh học sinh về tầm quan trọng của rèn các kỹ năng tự phục vụ cho trẻ. 2.4.2. Cách thức, quá trình áp dụng biện pháp Như chúng ta đã biết đặc điểm của trẻ mầm non là hay bắt chước những hành động hay lời nói của người lớn, vì vậy muốn trẻ có những kỹ năng tự phục vụ thường xuyên và có kỹ năng tự phục vụ thành thạo, người lớn phải có những kỹ năng tự phục vụ thường xuyên và thành thạo. Và phải tạo cho trẻ được rèn những kỹ năng đó thường xuyên dù ở nhà hay ở trường. Hình ảnh: Cuộc họp phụ huynh học sinh của lớp mẫu giáo 4-5 tuổi B2. Tôi đã tuyên truyền với phụ huynh qua các cuộc họp phụ huynh, trên nhóm Zalo của lớp về lợi ích của rèn kỹ năng tự phục vụ cho trẻ. Hướng dẫn và động viên phụ huynh cùng thực hiện rèn kỹ năng tự phục vụ cho trẻ thường xuyên. 2.4.3. Kết quả áp dụng biện pháp: Sau khi sử dụng biện pháp phối kết hợp với phụ huynh học sinh, 100% phụ huynh lớp tôi đã biết được sự cần thiết phải rèn kỹ năng tự phục vụ cho trẻ, nắm được cách hướng dẫn trẻ các kỹ năng tự phục vụ tại nhà. PHẦN C. MINH CHỨNG VỀ HIỆU QUẢ CỦA BIỆN PHÁP * Một số văn bản hướng dẫn làm cơ sở cho việc lựa chọn biện pháp Chương trình giáo dục Mầm non; Hướng dẫn thực hiện chương trình giáo dục Mầm non mẫu giáo nhỡ (4 - 5 tuổi); Kế hoạch số 15/KH-MNĐM ngày 16 tháng 9 năm 2021 về Kế hoạch thực hiện nhiệm vụ năm học 2021-2022 của trường Mầm non Đa Mai; Bộ Giáo dục và Đào tạo, Hướng dẫn và rèn luyện kỹ năng sống cho trẻ Mầm non. * Hiệu quả của biện pháp - Đối với bản thân: Xác định được những kỹ năng tự phục vụ cần thiết để dạy trẻ, chủ động linh hoạt và sáng tạo hơn trong việc trang trí môi trường lớp học và khi tổ chức cho trẻ tham gia vào các hoạt động, kiên trì hơn khi dạy và rèn các kỹ năng tự phục vụ cho trẻ. - Đối với phụ huynh: Phụ huynh hiểu được tầm quan trọng của bậc học Mầm non, hiểu được sự cần thiết của việc dạy và rèn các kỹ năng tự phục vụ cho trẻ. - Đối với trẻ: Trẻ có thói quen vệ sinh cá nhân, lao động tự phục vụ, được rèn luyện kỹ năng tự lập; qua các hoạt động hàng ngày trong cuộc sống của trẻ. Bảng so sánh kết quả của trẻ trước và sau khi áp dụng biện pháp Khi chưa áp dụng Sau khi áp dụng Nội dung theo dõi, đánh giá trẻ biện pháp biện pháp Kỹ năng tự rửa tay bằng xà phòng 12/24 = 50% 24/24 = 100% Kỹ năng tự lau mặt 12/24 = 50% 24/24 = 100% Kỹ năng tự đánh răng 10/24 = 41,7% 20/24 = 83,3% Kỹ năng tự thay quần áo khi bị ướt, bẩn 5/24 = 20,8% 18/24 = 75% Kỹ năng tự cầm bát, thìa xúc ăn gọn gàng, 10/24 = 41,7% 24/24 = 100% không rơi vãi, đổ thức ăn Kỹ năng xếp dọn đồ đạc cá nhân 14/24 = 58,3% 24/24 = 100% Kỹ năng xếp gọn đồ đạc chung của lớp 12/24 = 50% 24/24 = 100% Kỹ năng sử dụng nhà vệ sinh 9/24 = 37,5% 24/24 = 100% GIÁO VIÊN Lương Thùy Linh
File đính kèm:
skkn_ren_ky_nang_tu_phuc_vu_cho_tre_lop_mau_giao_4_5_tuoi_b2.docx