SKKN Tổ chức tốt hoạt động làm quen với văn học cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi A3 Trường mầm non Tân Tiến - TP Bắc Giang
Bạn đang xem tài liệu "SKKN Tổ chức tốt hoạt động làm quen với văn học cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi A3 Trường mầm non Tân Tiến - TP Bắc Giang", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
Tóm tắt nội dung tài liệu: SKKN Tổ chức tốt hoạt động làm quen với văn học cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi A3 Trường mầm non Tân Tiến - TP Bắc Giang
PHẦN A: ĐẶT VẤN ĐỀ Văn học là phương tiện hữu hiệu nhất để hình thành và phát triển nhân cách cho trẻ một cách toàn diện. Với trẻ mầm non thì thơ ca, truyện kể là món ăn tinh thần không thể thiếu và là một trong những cách thức nhận biết thế giới hấp dẫn đối với trẻ. Vì thế từ lâu văn học đã được sử dụng như một trong những phương tiện giáo dục hữu ích nhằm mở rộng sự hiểu biết về thế giới xung quanh, phát triển ngôn ngữ rõ ràng, mạch lạc, giáo dục đạo đức và bồi đắp xúc cảm thẩm mỹ cho trẻ. Vậy phải làm thế nào để có thể tổ chức tốt hoạt động làm quen với văn học cho trẻ một cách có hiệu quả nhất trong khi đặc điểm của trẻ mầm non là “Học bằng chơi, chơi bằng học và dễ nhớ mau quên”. Ở lớp tôi phụ trách đa số phụ huynh làm nghề nông, công việc lúc nào cũng bận rộn ngoài đồng ruộng, không có nhiều thời gian để chăm sóc con cái. Do vậy, đa số trẻ đến trường cha mẹ lúc nào cũng chỉ nhờ cô dạy chữ và tập viết cho con chứ không thích cho trẻ tham gia các hoạt động thơ, truyện Với thực trạng của lớp tôi hiện nay, nhận thức của trẻ không đồng đều, trẻ thường hay thờ ơ hoặc không hứng thú với hoạt động làm quen với văn học. Chính vì vậy mà việc tổ chức các hoạt động làm quen với văn học còn gặp rất nhiều khó khăn và kết quả mang lại chưa cao. Tôi nhận thấy mình cần phải tìm tòi, đưa ra những biện pháp đổi mới về tổ chức tốt hoạt động làm quen với văn học để góp phần phát triển tính chủ động, tích cực của trẻ. Từ những suy nghĩ trên tôi đã mạnh dạn đưa ra “Tổ chức tốt hoạt động làm quen với văn học cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi A3 Trường mầm non Tân Tiến - TP Bắc Giang” PHẦN B: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 1.Thực trạng vấn đề 1.1. Ưu điểm: 2 - Trường mầm non Tân Tiến là ngôi trường đạt chuẩn mức độ 2, cơ sở vật chất của nhà trường ngày một khang trang sạch đẹp, phòng học đảm bảo diện tích ánh sáng, đầy đủ trang thiết bị đồ dùng, đồ chơi phục vụ cho hoạt động dạy và học. Trường có phòng thư viện hiện đại được trang bị đầy đủ các loại sách truyện, có phòng thư viện của bé, có các mô hình kể truyện sáng tạo giúp trẻ hứng thú tham gia vào hoạt động. - Bản thân tôi có trình độ chuyên môn nghiệp vụ. Trong quá trình giảng dạy tôi đã cố gắng tích luỹ kinh nghiệm, kiến thức cho bản thân, luôn học hỏi đồng nghiệp, nghiên cứu sách báo, tài liệu giáo dục mầm non, mạng Internet, trên trang Web của nhà trường - Trẻ lớp tôi đã được học qua lớp 4 - 5 tuổi nên đa số khả năng tiếp thu của trẻ cũng khá nhanh nhạy. 1.2. Tồn tại, hạn chế và nguyên nhân 1.2.1. Giáo viên - Hình thức tổ chức hoạt động văn học còn nhiều gò bó, máy móc, chưa có tính mới lạ. - Do thời gian giành cho công tác chăm sóc, giáo dục trẻ trên lớp nhiều nên việc nghiên cứu, lựa chọn các hình thức tổ chức làm quen với văn học còn hạn chế; Trong lúc giảng dạy đôi lúc còn cứng nhắc trong việc giáo dục trẻ. Chưa có nhiều thời gian dành cho việc trang trí tạo môi trường làm quen với văn học và việc đầu tư cho tiết dạy. 1.2.2. Trẻ em - Khả năng nhận thức, nghe, nói, đọc của trẻ chưa đồng đều, chưa mạnh dạn tự tin khi thể hiện khả năng diễn cảm trước cô và các bạn. - Trẻ bị ảnh hưởng nhiều từ tiếng địa phương, trẻ nói ngọng, nói lắp, nói không đủ câu. Vì thế dẫn đến các tiết học trầm, chưa sôi nổi, tư duy sáng tạo của trẻ cũng hạn chế, kết quả mang lại chưa như mong muốn 1.2.3. Phụ huynh (cha mẹ/người chăm sóc trẻ) - Bản thân phụ huynh chưa hiểu rõ về tầm quan trọng của hoạt động làm quen với văn học đối với sự phát triển của trẻ; Phụ huynh chưa nhiệt tình phối 3 kết hợp với giáo viên trong việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ. Do phụ huynh cưng chiều con nên khi giao tiếp có lúc còn nói bắt chước lỗi nói ngọng của trẻ dẫn đến trẻ không sửa được lỗi nói sai. Do thời gian ở nhà phụ huynh cho con xem ti vi nhiều, ít giao tiếp với con làm hạn chế ngôn ngữ nói của trẻ và ảnh hưởng đến việc rèn trẻ nói mạch lạc. 1.2.4. Cơ sở GDMN - Mặc dù nhà trường đã đầu tư mua đồ dùng như tranh truyện, thơ để phụ vụ cho hoạt động làm quen với văn học, nhưng đa số tranh là tranh tĩnh nên chưa tạo được sự hấp dẫn đối với trẻ. Do thời gian chăm sóc giáo dục trẻ trên lớp còn dài (10h/ngày) nên chưa có nhiều thời gian trang trí tạo môi trường và công tác làm mô hình rối, tranh động cho trẻ làm quen với văn học còn gặp nhiều khó khăn. => Từ thực trạng vấn đề trên, đồng thời để nắm bắt được đặc điểm tâm lí của từng trẻ trong lớp nên ngay sau khi nhận trẻ vào lớp tôi đã trao đổi trực tiếp với phụ huynh về tính cách, ngôn ngữ, sở thích của trẻ. Trên lớp tôi gần gũi tạo cơ hội để trò truyện với trẻ, kể cho trẻ nghe những câu chuyện, đọc cho trẻ những bài thơ ca dao, đồng dao để biết được khả năng nghe hiểu sự tập trung chú ý của trẻ vào bài. Qua trò truyện tôi cho trẻ đọc một số bài thơ đã thuộc để khảo sát khả năng làm quen văn học của trẻ, tôi nhận thấy: Nội dung khảo sát trước khi áp dụng các biện pháp: Trước khi áp dụng biện pháp Nội dung Đạt Chưa đạt - Trẻ nhớ tên bài thơ, truyện, tên tác giả, 18/26 = 69,2% 8/26 = 30,8% nhớ tên nhân vật và hiểu nội dung. - Trẻ hiểu và thể hiện được nội dung bài học 17/26 = 65,4% 9/26 = 34,6% - Kỹ năng đọc: Trẻ thuộc và đọc diễn cảm 17/26 = 65,4% 9/26 = 34,6% - Trẻ hứng thú vào bài học 16/26 = 61,5% 10/26 = 38,5% - Trẻ hiểu và nói mạch lạc 15/26 = 57,7% 11/26 = 42,3% => Để tổ chức tốt hoạt động làm quen với văn học cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi 4 A3 trường Mầm non Tân Tiến - TP Bắc Giang tôi sử dụng các biện pháp sau: 2. Biện pháp 2.1. Biện pháp 1: Tạo môi trường cho trẻ làm quen với văn học. 2.1.1. Nội dung biện pháp - Xây dựng môi trường phong phú, hình ảnh, màu sắc, nhân vật nghộ nghĩnh, mang tính thẩm mĩ thu hút sự hứng thú của trẻ vào hoạt động làm quen văn học. - Tạo sự hứng thú cho trẻ khi tham gia vào hoạt động văn học. 2.1.2. Cách thức, quá trình áp dụng biện pháp - Xây dựng môi trường phong phú, hình ảnh, màu sắc, nhân vật ngộ nghĩnh, mang tính thẩm mĩ thu hút sự hứng thú của trẻ vào hoạt động làm quen văn học thì ngay từ đầu năm học tôi đã chú ý xây dựng “Góc học tập”. Tôi đã sưu tầm các quyển truyện tranh, tạp trí, họa báo... để cho trẻ xem. Sưu tầm nguyên vật liệu sẵn có ở địa phương: Bìa cát tông, chai nhựa... để làm đồ dùng đồ chơi theo từng chủ đề khác nhau. - Để tạo sự hứng thú cho trẻ khi tham gia vào hoạt động văn học khi kết thúc mỗi chủ đề tôi thường cùng trẻ trang trí lại “Góc học tập” theo nội dung của chủ đề mới. Và trẻ rất thích thú khi cùng cô tạo ra các nhân vật trong truyện. Điều này giúp trẻ tư duy sáng tạo hơn khi kể chuyện, trẻ dễ nhớ hình dung được phần nào về đặc điểm, tính cách của nhân vật. Từ đó khi được làm quen với văn học trẻ dễ tiếp cận hơn, ghi nhớ nhân vật, tên bài thơ, truyện và hiểu nội dung của bài thơ, câu chuyện sâu sắc hơn 5 (Hình ảnh trẻ được hoạt động ở góc học tập) 2.1.3. Kết quả áp dụng biện pháp: - Qua biện pháp này trẻ lớp tôi thích hoạt động ở góc sách truyện nhiều hơn cụ thể như trước khi áp dụng chỉ có 3 - 4 bạn nhưng sau khi áp dụng biện pháp này có 9 - 10 bạn thích hoạt động ở góc sách truyện, trẻ hứng thú tham gia đóng kịch, nhập vai vào các nhân vật trong truyện khi tham gia hoạt động góc giúp trẻ dễ nhớ tên bài thơ, câu truyện hơn. - Cho trẻ tham gia cùng cô trang trí góc sách truyện giúp trẻ dễ nhớ và khắc sâu hơn về đặc điểm tính cách các nhân vật trong chuyện. Phát triển khả năng tư duy sáng tạo hơn khi kể chuyện. 2.2. Biện pháp 2: Sử dụng đồ dùng trực quan, ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy 2.2.1. Nội dung biện pháp - Sử dụng đồ dùng trực quan một cách khoa học và hiệu quả. - Đưa công nghệ thông tin vào dạy và học để cho trẻ làm quen với văn học. 2.2.2. Cách thức, quá trình áp dụng biện pháp * Đối với việc sử dụng đồ dùng trực quan một cách khoa học và triệt để đúng lúc, đúng chỗ. Tôi thường sử dụng đồ dùng trực quan về các nhân vật có trong bài học ở phần gây hứng thú để dẫn dắt vào bài nhằm tạo sự hứng thú cho trẻ. 6 - Tôi còn sử dụng sa bàn hoặc sử dụng tranh minh họa diễn tả cảnh trong câu chuyện, nội dung bài thơ khi kể, đọc lần 2 của câu chuyện, bài thơ. (Hình ảnh trẻ làm quen văn học qua đồ dùng trực quan) - Ngoài ra tôi còn sử dụng rối trong giờ học: Rối que, Rối tay tôi làm từ vải dạ, bìa cát tông từ những nguyên vật liệu đó tôi tạo thành hình dáng đặc trưng của các nhân vật trong truyện. Sau đó tôi sử dụng rối que để kể lại câu chuyện và đã thu hút sự chú ý, tò mò của trẻ vào hoạt động văn học. (Hình ảnh cô sử dụng đồ dùng trực quan rối que, rối tay vào tiết học) * Đối với ứng dụng công nghệ thông tin: - Đưa công nghệ thông tin vào việc dạy và học cho trẻ làm quen với văn học sẽ giúp cho giáo viên giải quyết được những khó khăn về đồ dùng trực quan, phát triển được nhiều hình thức luyện tập, tích hợp các hoạt động thuận lợi 7 hơn. Trẻ có nhiều trò chơi linh hoạt, giờ học, giờ chơi thêm sinh động phong phú, dễ tiếp thu hơn. - Để hoạt động cho trẻ làm quen với văn học đạt hiệu quả cao tôi đã ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động dạy và học, ở lần kể chuyện hay đọc thơ lần 2 tôi kết hợp đọc kể theo video với những hình ảnh động. Tùy vào từng đề tài mà tôi lựa chọn những hình ảnh, video có nội dung phù hợp giúp trẻ hứng thú hơn. - Khi đàm đoại về nội dung câu truyện hay bài thơ tôi thường thiết kế câu hỏi trên powerpoit, trẻ được tương tác với các thiết bị như trên máy tính để trả lời câu hỏi của cô. Tôi nhận thấy trẻ hăng hái phát biểu tiết học sôi nổi giúp trẻ hiểu nội dung hơn. (Hình ảnh ứng dụng công nghệ thông tin vào HĐVH) 2.2.3. Kết quả áp dụng biện pháp: - Sử dụng đồ dùng trực quan một cách khoa học và triệt để giúp trẻ tái hiện lại chân thực nội dung của bài thơ, câu chuyện giúp trẻ dễ ghi nhớ tên bài thơ câu chuyện, các nhân vật và hiểu nội dung một cách sâu sắc hơn. 8 - Việc đưa công nghệ thông tin vào việc dạy và học cho trẻ làm quen với văn học đã giúp trẻ hứng thú hơn vào hoạt động, trẻ hăng hái phát biểu, tiết học sôi nổi, hấp dẫn hơn. Cụ thể trước khi áp dụng số trẻ hứng thú vào bài học là 16/26 trẻ chiếm 61,5%, sau khi áp dụng số trẻ hứng thú tăng lên đáng kể 26/26 trẻ đạt 100% tăng 38,5%. 2.3. Biện pháp 3: Tổ chức cho trẻ làm quen với văn học trong HĐ học và lồng ghép cho trẻ làm quen với văn học qua các hoạt động khác 2.3.1. Nội dung biện pháp - Tổ chức cho trẻ làm quen với văn học trong hoạt động học. - Cho trẻ làm quen với văn học qua các hoạt động mọi lúc mọi nơi. 2.3.2. Cách thức, quá trình áp dụng biện pháp * Đối với việc tổ chức cho trẻ LQVH trên tiết học: - Trước khi tiến hành một hoạt động học, cho trẻ làm quen với văn học, tôi nghiên cứu bài dạy, lựa chọn phương pháp, tiến hành soạn giáo án, chuẩn bị đầy đủ đồ dùng phục vụ cho hoạt động dạy và học. Trong quá trình dạy trẻ tôi sử dụng đồ dùng một cách khoa học đạt hiệu quả cao. - Như trong giờ kể câu chuyện “Giọt nước tí xíu” tôi chuẩn bị đầy đủ đồ dùng sân khấu rối, video nội dung câu chuyện, đồ dùng trực quan để gây hứng thú, máy tính, loa... khi tiến hành tiết dạy tôi sử dụng tối đa đồ dùng một cách linh hoạt phù hợp với từng hoạt động trong bài: Phần gây hứng thú tôi đóng vai nhân vật giọt nước để dẫn dắt vào bài, kể cho trẻ nghe lần 2 qua powerpoit và nghe cô kể lần 3 tôi cho trẻ xem và nghe kể qua màn kịch rối que. 9 (Hình ảnh trẻ được LQ với HĐVH truyện “Giọt nước tí xíu) * Đối với việc tổ chức cho trẻ LQVH qua các HĐ khác, mọi lúc mọi nơi: - Trong giờ đón trẻ tôi trò chuyện và kể cho trẻ một câu chuyện mới, đọc cho trẻ nghe bài thơ mới hoặc các bài ca dao, đồng dao trong chủ đề đang học. - Để tổ chức tốt hoạt động cho trẻ làm quen với văn học tôi đã lồng ghép trong các môn học khác như hoạt động âm nhạc, làm quen chữ cái, khám phá, hoạt động ngoài trời.... Ví dụ: Ở phần gây hứng thú hay phần kết thúc tôi cho trẻ hát, đọc thơ, đồng dao về chủ đề có liên quan để dẫn dắt vào bài hoặc chuyển hoạt động. - Vào các buổi chiều tôi đọc truyện cho trẻ nghe, dạy trẻ đóng kịch hoặc kể chuyện sáng tạo, đọc ca dao, đồng dao. - Trước khi ngủ tôi kể cho trẻ nghe một câu chuyện nhẹ nhàng có ngôn ngữ hay và có tính nhạc “Giấc mơ kỳ lạ”... (Hình ảnh cô kể truyện cho trẻ nghe trước khi ngủ) - Trong hoạt động góc tôi chuẩn bị thật nhiều truyện tranh có màu sắc tươi sáng mang nội dung chủ đề cho trẻ tìm hiểu như: Truyện “Tấm cám”, “Bạn mới”, “Giọt nước tí xíu”, “Qua đường”... hay cho trẻ làm sách về những câu chuyện đã học, chuẩn bị những câu chuyện kết hợp hình ảnh để cho trẻ tự kể chuyện theo hình ảnh minh họa đó. 10 - Ngoài ra tôi còn tổ chức cho trẻ làm quen với văn học trong phòng thư viện của nhà trường. Trẻ được nghe cô đọc thơ, kể chuyện và thỏa sức khám phá các loại sách truyện khác nhau. (Hình ảnh trẻ làm quen với văn học trong hoạt động góc, phòng thư viện) 2.3.3. Kết quả áp dụng biện pháp: - Tổ chức cho trẻ làm quen với văn học trong hoạt động học giúp trẻ nắm được kiến thức, kỹ năng đọc thuộc, đọc diễn cảm mà còn giúp trẻ mở rộng nhận thức trí tuệ, giáo dục đạo đức, thẩm mỹ, phát triển ngôn ngữ nói rõ ràng mạch lạc và trẻ còn tự tin mạnh dạn hơn. Trẻ được mở rộng tầm hiểu biết về thế giới xung quanh, có rung động, có thái độ đúng đắn với cái đẹp, cái xấu, cái thiện, cái ác, có hành vi tốt hình thành nhân cách nhằm chuẩn bị cho trẻ bước vào lớp một được tốt hơn. - Đối với việc cho trẻ LQVH thông qua các hoạt động khác trẻ được lồng ghép với các môn học khác giúp ghi nhớ, khắc sâu hơn về nội dung của tác phẩm, đồng thời là cầu nối, bước chuyển tiếp giúp trẻ hứng thú hơn vào hoạt động tiếp. Qua đó trẻ yêu thích các tác phẩm văn học hơn. 2.4. Biện pháp 4: Phối kết hợp với phụ huynh để dạy tốt hoạt động làm quen với văn học. 2.4.1. Nội dung biện pháp: Đối với trẻ mẫu giáo ở trường, công tác phối hợp giữa cô và mẹ là điều rất cần thiết cho việc chăm sóc giáo dục trẻ. Để làm được điều này tôi thường 11 xuyên trao đổi với phụ huynh về việc học tập của trẻ ở trường, tuyên truyền với phụ huynh về tầm quan trọng của hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ đặc biệt là hoạt động cho trẻ làm quen với văn học. 2.4.2. Cách thức, quá trình áp dụng biện pháp - Ngay trong buổi họp phụ huynh đầu năm tôi mạnh dạn trao đổi với phụ huynh về tầm quan trọng của hoạt động làm quen với văn học đối với sự phát triển toàn diện của trẻ. Trao đổi về tình hình chung của lớp, khả năng tham gia vào hoạt động cho trẻ làm quen với văn học ở trường. - Tôi đã xây dựng kế hoạch để tuyên truyền tới các bậc phụ huynh một cách chi tiết có hiệu quả như: Ở bảng “Tuần này bé học gì” tôi đã ghi rõ tên bài thơ, câu chuyện, đồng dao, ca dao trong tuần, chủ đề để phụ huynh cùng nắm bắt được kế hoạch của lớp từ đó phối hợp cùng giáo viên dạy trẻ, giúp trẻ có thể tự tin đọc bài thơ, ca dao, đồng dao, kể câu chuyện đó cho những người thân trong gia đình nghe. Từ đó chất lượng giáo dục trẻ được phát triển từ hai chiều. Ví dụ: Chủ điểm trường mầm non tôi thể hiện trên bảng tuyên truyền các bài thơ, câu chuyện “Bạn mới”, “Tình bạn” Ngoài ra, tôi còn tuyên truyền tới các bậc phụ huynh thông qua zalo nhóm, lớp. Tôi cũng trao đổi với phụ huynh về các hoạt động trên lớp của trẻ. Để phụ huynh nắm rõ những kiến thức, kỹ năng con em mình được học trên lớp, có thể ôn luyện cho con ở nhà. Từ đó phối hợp chặt chẽ với giáo viên trong quá trình rèn luyện trẻ để đạt được kết quả tốt nhất. - Tuyên truyền tới các bậc phụ huynh nhiệt tình hưởng ứng tích cực trong việc sưu tầm, ủng hộ nguyên vật liệu, sách truyện để xây dựng môi trường cho trẻ làm quen với văn học. 12 (Hình ảnh thể hiện sự phối hợp giữa giáo viên và phụ huynh) 2.4.3. Kết quả áp dụng biện pháp: - Nhờ có sự phối kết hợp chặt chẽ giữa giáo viên với phụ huynh. Tôi thấy phụ huynh hiểu rõ hơn tầm quan trọng của việc phối hợp cùng cô chăm sóc giáo dục trẻ nên đã dành thêm thời gian ôn luyện cùng con những nội dung cô giáo gửi cuối mỗi chủ đề... Từ đó giúp trẻ mạnh dạn tự tin hơn và học tập ngày càng tốt hơn. - Phụ huynh tích cực tham gia vào các hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ đặc biệt là hoạt động cho trẻ làm quen với văn học và sưu tầm sách báo, tranh truyện, các nguyên vật liệu làm đồ dùng đồ chơi để phục vụ cho hoạt động học. PHẦN C: MINH CHỨNG VỀ HIỆU QUẢ CỦA BIỆN PHÁP * Minh chứng Để thực hiện biện pháp này có hiệu quả tôi tiến hành nghiên cứu và tham khảo một số tài liệu sau: - Chương trình giáo dục mầm non theo thông tư 51/2019/TT-BGDĐT ngày 31 tháng 12 năm 2020) - Kế hoạch Số: 10/KH-MNTT ngày 01 tháng 9 năm 2023 về Kế hoạch thực hiện nhiệm vụ năm học 2023 - 2024 của trường mầm non Tân Tiến. - Kế hoạch số: 04/KHCSGD-MNTT ngày 03 tháng 9 năm 2023 về Kế hoạch thực hiện chương trình chăm sóc, giáo dục trẻ 5 - 6 tuổi năm học 2023 - 2024. - Căn cứ vào tuyển tập thơ ca, truyện, câu đố dành cho trẻ 5 - 6 tuổi. - Chương trình “Vườn cổ tích”; “Kể chuyện bé nghe” trên kênh truyền hình VTV3 13 * Hiệu quả của biện pháp - Bản thân tôi linh hoạt sáng tạo hơn trong hoạt động hoạt động giảng dạy đã mang lại nhiều điều mới lạ trong HĐLQ với văn học - Trẻ lớp tôi rất thích thú tham gia vào hoạt động làm quen với văn học. Khả năng về tiếp thu văn học của trẻ cao hơn, trẻ hoạt động rất tự tin, thoải mái. Kết quả đạt được như sau: Tổng số trẻ: 26 Trước và sau khi áp dụng các biện pháp. STT Nội dung Trước khi áp dụng Sau khi áp dụng giải pháp giải pháp 1 - Trẻ nhớ tên bài thơ, truyện, tên 18/26 = 69,2% 26/26 = 100% tác giả, nhớ tên nhân vật và hiểu nội dung. 2 - Trẻ hiểu và thể hiện được nội 17/26 = 65,4% 25/26 = 96,2% dung bài học 3 - Kỹ năng đọc: Trẻ thuộc và đọc 17/26 = 65,4% 25/26 = 96,2% diễn cảm 4 - Trẻ hứng thú vào bài học 16/26 = 61,5% 26/26 = 100% 5 - Trẻ hiểu và nói mạch lạc 15/26 = 57,7% 25/26 = 96,2% - Nâng cao nhận thức của phụ huynh về bậc học mầm non, phụ huynh luôn tin tưởng nhiệt tình phối hợp cùng giáo viên phát triển ngôn ngữ cho trẻ. Phụ huynh đã chủ động trò truyện với trẻ nhiều hơn khi ở nhà. - Đối với cơ sở giáo dục mầm non: Môi trường cho trẻ làm quen văn học phong phú đa dạng hơn. Tranh truyện cũng như mô hình sáng tạo hơn, có nhiều hình ảnh động... PHẦN D: CAM KẾT Tôi xin cam kết những điều khai trên là đúng sự thật, không sao chép vi phạm bản quyền của cá nhân, tổ chức nào. Đây là biện pháp bản thân tôi xây dựng và thực hiện thường xuyên tại lớp 5 – 6 tuổi A3 trường mầm non Tân Tiến. 14 15
File đính kèm:
skkn_to_chuc_tot_hoat_dong_lam_quen_voi_van_hoc_cho_tre_mau.docx