Dạy trẻ mẫu giáo 4 - 5 tuổi không chơi với những đồ vật nguy hiểm
Bạn đang xem tài liệu "Dạy trẻ mẫu giáo 4 - 5 tuổi không chơi với những đồ vật nguy hiểm", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
Tóm tắt nội dung tài liệu: Dạy trẻ mẫu giáo 4 - 5 tuổi không chơi với những đồ vật nguy hiểm
PHẦN A. ĐẶT VẤN ĐỀ Hiện nay, có rất nhiều trẻ tử vong do tai nạn thương tích, trong đó số vụ tai nạn của trẻ do sự bất cẩn của người lớn cũng đã xảy ra. Một số trẻ bị tai nạn thương tích tuy không tử vong nhưng cũng bị tàn tật suốt đời. Môi trường gia đình, trường học mất an toàn cũng là nguyên nhân dẫn đến tai nạn thương tích cho trẻ: Trẻ ngã cầu thang, bỏng nước sôi, bị vật sắc nhọn cắt, đâm... Tai nạn thương tích không những gây tổn thất về người mà còn để lại gánh nặng cho cả gia đình và xã hội, là những hậu quả lâu dài: Sang trấn tâm lý, khó khăn trong vận động... Để đảm bảo an toàn tuyệt đối cho trẻ, đặc biệt là trẻ mầm non, nhiệm vụ hết sức quan trọng không chỉ với cô giáo mầm non mà của toàn xã hội. Cô giáo là người chăm sóc giáo dục trẻ hàng ngày, nếu giảm được mức thấp nhất tai nạn thương tích, thì giúp cho trẻ phát triển và trở thành chủ nhân tương lai của đất nước hoàn toàn khỏe mạnh, mang lại hạnh phúc cho mọi người. Năm học 2021 - 2022 tôi được phân công giảng dạy tại lớp mẫu giáo 4 - 5 tuổi B4, hầu hết trẻ đến trường mọi thứ bỡ ngỡ, vì do một thời gian dài nghỉ dịch Covid-19, những kĩ năng sống cơ bản như vệ sinh cá nhân, kĩ năng rửa tay bằng xà phòng, đánh răng đúng cách, rửa mặt... phần nào bị quên. Bên cạnh đó những kỹ năng: Cách tránh đồ vật gây nguy hiểm, an toàn khi chơi... rất quan trọng vì giúp trẻ trong quá trình học ở những năm tiếp theo, ở các cấp học khác, mọi thứ trẻ phải tự lập. Từ những lý do trên tôi đã mạnh dạn lựa chọn biện pháp “Dạy trẻ mẫu giáo 4 - 5 tuổi không chơi với những đồ vật nguy hiểm” PHẦN B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 1. Thực trạng công tác tổ chức nội dung/nhiệm vụ mà giáo viên lựa chọn để giải quyết vấn đề 1.1. Ưu điểm: - Ban giám hiệu nhà trường luôn tạo điều kiện cho giáo viên học tập, nâng cao trình độ chuyên môn. Không ngừng cải tạo, nâng cấp cơ sở vật chất, đồ dùng đồ chơi để đảm bảo thực hiện tốt chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ. - Trường có khuôn viên rộng rãi, thoáng mát. Nhà trường có truyền thống và nhiều thành tích trong chăm sóc và giáo dục trẻ. - Bản thân là giáo viên có trình độ chuyên môn trên chuẩn với năng lực chuyên môn vững vàng, nhiệt tình yêu nghề mến trẻ. Có tác phong sư phạm tốt, nắm chắc và vận dụng linh hoạt các hình thức, phương pháp trong việc tổ chức các hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ. - Giáo viên ở lớp đoàn kết, năng động, luôn phối kết hợp và thống nhất phương pháp, biện pháp dạy trẻ. - Luôn nhận được sự tín nhiệm và tin cậy tham gia giáo dục của phụ huynh, được trẻ tin yêu, được đồng nghiệp gần gũi, chia sẻ. - Đa số phụ đồng tình cao với kế hoạch của giáo viên khi tiến hành dạy trẻ không chơi với những đồ vật nguy hiểm. 1.2. Tồn tại, hạn chế và nguyên nhân 1.2.1. Giáo viên - Giáo viên chưa biết vận dụng linh hoạt, tích hợp có hiệu quả để dạy trẻ một số kỹ năng không chơi với những đồ vật nguy hiểm. 1.2.2. Trẻ em - Trẻ chưa nhận biết được những đồ vật gây nguy hiểm, kỹ năng bảo vệ bản thân còn hạn chế. - Do trẻ chưa được trang bị kiến thức, những kỹ năng cơ bản để nhận biết những đồ vật gây nguy hiểm và cách phòng tránh để đảm bảo an toàn. 1.2.3. Phụ huynh (cha mẹ/người chăm sóc trẻ) - Các bậc phụ huynh chủ yếu làm ruộng, một số phụ huynh làm công nhân, thời gian làm ca ngày, ca đêm nên các con ở nhà với ông bà nên một số kĩ năng của trẻ còn hạn chế. - Nhiều phụ huynh chưa hiểu và quan tâm đến việc giáo dục rèn luyện kỹ năng sống cho trẻ. Đa số trẻ bị ảnh hưởng bởi cuộc sống hiện đại như: Internet, tivi, các trò chơi điện tử... 2. Biện pháp “Dạy trẻ mẫu giáo 4 - 5 tuổi không chơi với những đồ vật nguy hiểm” 2.1. Biện pháp 1: Tự học, tự bồi dưỡng nâng cao trình độ bản thân. 2.1.1. Nội dung biện pháp Bản thân tôi luôn có ý thức rõ về vấn đề tự học, tự bồi dưỡng để nâng cao trình độ chuyên môn, trau dồi kiến thức cho bản thân mình. 2.1.2. Cách thức, quá trình áp dụng biện pháp Là một giáo viên dạy trẻ mầm non thì lại càng phải tìm tòi, học hỏi, nắm bắt những thông tin mà hằng ngày báo chí, ti vi đưa lên để áp dụng vào để dạy cho trẻ của mình. Để có được những kiến thức dạy trẻ không chơi với những đồ vật nguy hiểm thì bản thân tôi phải nắm chắc được các kỹ năng tự bảo vệ bản thân đó là như thế nào đã rồi mới áp dụng vào dạy cho trẻ. Biết được đâu là những kỹ năng tự bảo vệ bản thân đúng đắn cần cung cấp cho trẻ, kỹ năng nào thì không nên dạy trẻ. Vì thế, tôi thường học hỏi thông qua sách vở, báo chí, truyền thông, Internet, qua các kinh nghiệm sống của chính mình làm kho tàng riêng cho chính bản thân. * Ví dụ: Thông qua sách vở tôi có thể nắm được các kỹ năng tự bảo vệ bản thân cơ bản cần dạy cho trẻ để giúp trẻ có thể lĩnh hội một cách dễ dàng và nhanh nhất. Hay thông qua mạng Internet tôi có thể truy cập hàng ngày để tìm hiểu về những thông tin, tình huống, những điều mình nhận thức chưa được sâu sắc. Để từ đó tôi vận dụng vào thực tế trẻ của lớp mình theo cách “Làm bạn cùng trẻ” giúp trẻ thực hiện những điều mình muốn mà chưa dám làm. 2.1.3. Kết quả áp dụng biện pháp: Qua việc tự học, tự bồi dưỡng đã giúp bản thân có thêm nhiều kiến thức bổ ích và kinh nghiệm trong việc chăm sóc, giáo dục trẻ. Đặc biệt là trong việc dạy trẻ không chơi với đồ vật nguy hiểm một cách hiệu quả với trẻ 4 - 5 tuổi. Qua đó nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy và học. 2.2. Biện pháp 2: Xây dựng tiết học dạy trẻ không chơi với những đồ vật nguy hiểm 2.2.1. Nội dung biện pháp - Giáo dục cho trẻ biết những mối nguy hiểm có thể đến từ đồ dùng sắc nhọn: Dao, kéo, đinh, cạnh bàn, cạnh ghế. Đồ dùng gây bỏng, giật: Ấm nước sôi, ổ điện, bếp ga, bật lửa. Những khu vực nguy hiểm như cầu thang bộ, cửa sổ hay ban công Từ đó giúp cho trẻ phòng tránh được những tai nạn thương tích trong trường mầm non cũng như trong cuộc sống hàng ngày. 2.2.2. Cách thức, quá trình áp dụng biện pháp Đối với kỹ năng “Dạy trẻ không chơi với những đồ vật nguy hiểm” đầu tiên tôi sẽ phân loại ra các nội dung, đồ dùng cần cung cấp cho trẻ trong tiết dạy (dưới dạng tranh ảnh) và chia lớp làm các nhóm để thảo luận: + Nhóm thảo luận về đồ dùng sắc nhọn: Dao, kéo, đinh, cạnh bàn + Nhóm thảo luận về đồ dùng gây bỏng, giật: Ấm nước sôi, ổ điện, bếp ga, bật lửa. + Nhóm thảo luận về những khu vực nguy hiểm có thể bị ngã: Như cầu thang bộ, cửa sổ hay ban công, trèo cây (Trẻ hứng thú tham gia hoạt động) Sau khi trẻ thảo luận xong tôi mời đại diện các nhóm lên giới thiệu trình bày những hiểu biết về các đồ dùng, hành vi những khu vực nguy hiểm của nhóm mình cho các nhóm còn lại xem. - Cô khái quát lại nội dung và dạy trẻ cách phòng tránh những mối nguy hiểm. * Nhóm thảo luận về đồ dùng sắc nhọn: Dao, kéo, đinh, cạnh bàn, cạnh ghế. + Các con có nhận xét gì về các đồ dùng này? + Điều gì sẽ xảy ra nếu các con tự ý dùng dao, kéo? + Con làm gì khi bị vật sắc nhọn gây tổn thương. - Quy tắc cách phòng tránh bị thương do các vật sắc nhọn. - Các bước sơ cứu khi bị thương chảy máu: • Bước 1: Rửa tay sạch trước và sau khi sơ cứu chảy máu. • Bước 2: Rửa vết thương bằng nước sạch, có thể rửa dưới vòi nước máy. • Bước 3: Đặt miếng gạc lên vết thương. • Bước 4: Băng lại hoặc dùng băng keo băng kín. - Cho trẻ xem video “Không chơi những vật có thể gây nguy hiểm”. * Nhóm thảo luận về đồ dùng gây bỏng, giật: Ấm nước sôi, ổ điện, bếp ga. + Kể tên nguyên vật liệu, đồ dùng có thể cháy gây bỏng, giật? + Nguyên nhân nào xảy ra cháy, bỏng, giật? - Quy tắc phòng tránh bỏng, giật. - Khi bị bỏng cần thực hiện các bước sơ cứu: Cháy, nổ luôn là mối nguy cơ tiềm ẩn đe dọa đến tài sản và tính mạng của mỗi người. Bởi vậy, việc trang bị những kiến thức và kỹ năng để thoát hiểm khi xảy ra cháy nổ cho trẻ là vô cùng quan trọng. Đối với trẻ nhỏ, để ghi nhớ và thực hiện được những kỹ năng thoát hiểm không hề dễ dàng. + Trường hợp 1: Nếu là cháy nhỏ phải chạy nhanh ra ngoài, ra khỏi nơi có đám cháy. Kêu to báo cho mọi người xung quanh biết để kịp thời chữa cháy. + Trường hợp 2: Nếu là đám cháy lớn ta phải thực hiện các kỹ năng sau để thoát hiểm ra khỏi nơi có hoả hoạn: Kỹ năng 1: Khi ngửi thấy mùi khét hoặc trông thấy khói, lửa hay thấy chuông, đèn báo cháy mà không có người lớn bên cạnh thì các con phải thật bình tĩnh, tìm cách báo ngay cho người lớn hoặc gọi ngay cho các chú lính cứu hỏa theo số điện thoại là 114. Kỹ năng 2: Khi xảy ra sự cố về cháy, nổ ở trường học hay ở nhà, các con phải hết sức bình tĩnh, không được hoảng loạn, không được chen lấn xô đẩy và tuyệt đối phải làm theo sự chỉ dẫn của các thầy cô hay người lớn trong gia đình. Hướng dẫn cho trẻ nắm rõ các lối thoát hiểm trong nhà như: Cửa trước, cửa sau, lối thông sang nhà bên cạnh. Hoặc nếu nhà cao tầng thì chỉ cho bé thoát hiểm bằng cầu thang bộ. Kỹ năng 3: Khi xảy ra cháy có khói độc tôi hướng dẫn cho trẻ khi di chuyển, trẻ cần lấy khăn ướt, bịt vào mũi để tránh khí độc nhiễm vào có thể gây ngạt thở. Trẻ phải cúi thấp người xuống càng tốt vì càng sát đất thì khói và khí độc càng ít hơn. (Hình ảnh trẻ di chuyển khi có cháy) * Nhóm thảo luận về những khu vực nguy hiểm có thể bị ngã: Như cầu thang bộ, cửa sổ hay ban công, trèo cây + Ai có nhận xét gì về các đồ dùng này? + Điều gì sẽ xảy ra khi các con tự ý chơi đùa ở các khu vực này? + Cách phòng tránh? - Không chạy, xô đẩy nhau trên cầu thang; sàn trơn, ướt. - Không đi chân đất vào phòng tắm trơn, ướt. - Không trèo cao, đu cành cây * Khi bị ngã cần thực hiện sơ cứu: Thực hiện chườm đá vào vết thương kín, bị sưng tấy do ngã. - Sau khi trẻ trả lời hệ thống các câu hỏi xong, tôi sẽ tiến hành mở rộng thêm về những hành vi không được làm: Thò tay vào quạt khi quạt đang quay, chơi cầu trượt mà trượt đầu xuống trước và kết hợp giáo dục trẻ. 2.2.3. Kết quả áp dụng biện pháp: - Trẻ cảm thấy hứng thú với bài học theo phương pháp học mà chơi, chơi mà học. - Phát huy tính tích cực của trẻ, giúp trẻ hứng thú, chủ động khám phá tìm tòi, biết vận dụng vốn kiến thức, kỹ năng vào việc giải quyết các tình huống khác nhau. - Giúp trẻ có được những kiến thức, kỹ năng về phòng tránh, cách sơ cứu một số đồ vật sắc nhọn; một số đồ dùng gây bỏng, giật; khu vực gây nguy hiểm. 2.3. Biện pháp 3: Sử dụng tình huống, trò chơi, dạy trẻ những kỹ năng tự bảo vệ bản thân 2.3.1. Nội dung biện pháp Thường xuyên sử dụng các tình huống, trò chơi để dạy trẻ các kỹ năng tự bảo vệ bản thân. Tình huống, trò chơi mà giáo viên dạy trẻ phải gần gũi, thực tế, dễ hiểu phù hợp với khả năng nhận thức của trẻ để phát huy được tính tích cực, gây hứng thú cho trẻ. 2.3.2. Cách thức, quá trình áp dụng biện pháp Các tình huống, trò chơi dạy trẻ phải hấp dẫn, sinh động nhưng phải mang tính giáo dục cho trẻ. * Kỹ năng thoát hiểm khi có hỏa hoạn. + Ví dụ: Chủ đề “Nghề nghiệp” giờ hoạt động chiều tôi cho trẻ “Nhận biết nguy cơ hỏa hoạn có thể gặp” tôi sẽ cung cấp cho trẻ những kiến thức, kỹ năng cơ bản sau: - Nhận biết các nguồn gây ra lửa (Bếp ga, nến, cồn, xăng, dầu, rơm rạ...) - Biết gọi 114 để được cứu hỏa - Khi bị cháy, biết chạy ra khỏi nơi bị cháy và báo cho người lớn biết. + Trò chơi: Bé thoát hiểm (thực hành kỹ năng thoát hiểm). * Kỹ năng phòng tránh vật sắc nhọn: + Ví dụ: Chủ điểm: “Trường mầm non” giờ làm quen với văn học, tôi dậy trẻ câu chuyện “Người bạn tốt”. Giáo dục trẻ sự nguy hiểm của vật sắc nhọn. Từ đó tôi đưa ra tình huống: Tình huống: Hai bạn tranh nhau kéo Tôi đặt câu hỏi cho trẻ thảo luận: + Hai bạn nhỏ đang làm gì? + Chuyện gì sẽ xảy ra khi hai bạn tranh giành nhau kéo? Trẻ thảo luận xong cô khái quát lại nội dung, giáo dục trẻ: Các con tuyệt đối không được tranh giành kéo vì như vậy rất dễ gây ra nguy hiểm cho mình và bạn. Trò chơi: Giúp bạn nhỏ tìm đường đi an toàn * Kỹ năng phòng tránh bỏng: - Ví dụ: Chủ điểm: “Gia đình” tôi sử dụng các tình huống và trò chơi: Trò chơi: Tìm những đồ vật có thể gây bỏng Tình huống: Đoán xem điều gì có thể xảy ra với bạn trong mỗi tranh? Tôi đưa ra câu hỏi để trẻ thảo luận và trả lời theo ý hiểu của trẻ. Sau đó tôi tổng hợp lại và giáo dục trẻ tránh xa những đồ vật có thể gây bỏng. * Kĩ năng phòng tránh điện giật. Tình huống: Cho trẻ xem video “Phòng tránh bị điện giật” và yêu cầu trẻ xử lý tình huống. Giáo dục trẻ không sờ tay vào ổ điện, không chơi gần các thiết bị điện... 2.3.3. Kết quả áp dụng biện pháp Sau khi áp dụng biện pháp tôi thấy trẻ lớp tôi đã nhận biết và không chơi với những đồ vật gây nguy hiểm. Mọi ổ điện, đồ dùng có thể gây nguy hiểm cho trẻ như: Kéo, dao, bút, kim, quạt điện, phích nước... ở lớp, tôi đều để xa tầm tay với của trẻ và quy ước với trẻ là không được sờ vào. Biện pháp này sẽ giúp trẻ có cơ hội được chơi, trải nghiệm, thực hành một số tình huống nguy hiểm có thể xảy ra trong cuộc sống giúp trẻ bộc lộ cách suy nghĩ, giải quyết của mình tôi cần quan tâm sử dụng thường xuyên hơn như: Tạo tình huống, tạo môi trường cho trẻ được hoạt động tích cực. 2.4. Tuyên truyền với các bậc cha mẹ cách dạy trẻ không chơi với những đồ vật nguy hiểm. 2.4.1. Nội dung biện pháp - Tuyên truyền các bậc phụ huynh về những mối nguy hiểm có thể xảy ra trong cuộc sống hàng ngày của trẻ và những cách phòng tránh mối nguy hiểm đó. - Phối kết hợp cùng với phụ huynh học sinh trong công tác chăm sóc giáo dục trẻ đặc biệt là công tác giáo dục trẻ không chơi với những vật nguy hiểm. 2.4.2. Cách thức, quá trình áp dụng biện pháp Tôi xây dựng các bảng biểu, sưu tầm các tranh ảnh về các đồ vật không an toàn, các địa điểm, các hoạt động có nguy cơ không an toàn, trưng bày ở góc vận động, góc tuyên truyền của lớp. Hàng ngày trước khi đón trẻ và trước khi ra về tôi cùng giáo viên trong khu lớp dọn dẹp lớp sạch sẽ, kiểm tra và loại bỏ các nguy cơ có thể gây mất an toàn cho trẻ. Hàng tuần vào sáng chủ nhật xanh, tôi cùng tất cả cán bộ giáo viên đều tham gia tổng vệ sinh trong và ngoài phòng học, phòng làm việc, sân trường, vườn trường, loại bỏ các nguy cơ gây mất an toàn cho trẻ khi trẻ học tập và vui chơi trong trường. * Ví dụ: Như chặt bỏ những cành cây khô, sắp xếp kho gọn gàng, đồ dùng đồ chơi khu vận động sắp xếp khoa học không gây mất an toàn cho trẻ khi tham gia. Tôi đã thực hiện biện pháp tuyên truyền với phụ huynh dưới hai hình thức: trao đổi trực tiếp với phụ huynh qua các giờ đón trả trẻ, qua buổi họp phụ huynh và gián tiếp qua nhóm zalo của lớp, qua cổng thông tin điện tử của nhà trường. * Ví dụ: Thông qua giờ đón trẻ, tôi đã trao đổi với phụ huynh về tình hình sức khoẻ, vệ sinh cá nhân, những phản ứng kém linh hoạt cũng như những kỹ năng của trẻ để cùng phụ huynh giáo dục trẻ, giúp trẻ chủ động trong các hoạt động. Với hình thức tuyên truyền gián tiếp, ở góc tuyên truyền để nâng cao nhận thức của phụ huynh nắm bắt giúp con nhận biết và phòng tránh các nguy cơ không an toàn cho trẻ ở nhà. Tuyên truyền thông qua họp phụ huynh học sinh 2.4.3. Kết quả áp dụng biện pháp: Qua những kinh nghiệm mà tôi trao đổi và sự phối kết hợp thực hiện cho trẻ trải nghiệm của phụ huynh khi thực hiện ở nhà tôi đã nhận được sự phản hồi rất khả quan. Các con đã bước đầu nhận biết và phòng tránh được một số nguy cơ không an toàn có thể xảy ra trong gia đình: Không lại gần bếp lửa, phích nước nóng, ổ cắm điện, không vào nhà vệ sinh một mình, không đi ra ngoài chơi khi không có bố mẹ đi cùng. Trẻ có một số kĩ năng ban đầu về cách xử lý một số tình huống đơn giản. Phụ huynh đã nhận thấy sự cần thiết của việc phòng tránh ban đầu để phối hợp với giáo viên giáo dục, đánh giá trẻ một cách hợp lý nhất. PHẦN C. MINH CHỨNG VỀ HIỆU QUẢ CỦA BIỆN PHÁP Để thực hiện biện pháp này có hiệu quả tôi tiến hành nghiên cứu và tham khảo một số tài liệu sau: - Kế hoạch số 19/MNTT, ngày 08 tháng 10 năm 2021 về Kế hoạch tổ chức các hoạt động vui chơi, trải nghiệm, rèn kỹ năng sống năm học 2021 - 2022. - Sách đạo đức lớp 1: Bài 12,13,14,15. - Kế hoạch số: 05/KHCSGD-MNTT ngày 03 tháng 9 năm 2021 về Kế hoạch thực hiện chương trình chăm sóc, giáo dục trẻ 4 - 5 tuổi năm học 2021 - 2022. - Video, clip: Không chơi những vật có thể gây nguy hiểm; Phòng ngừa bị điện giật. - Hình ảnh trên Internet. - Kết quả cụ thể: + Về giáo viên: Bản thân tôi đã thấy tự tin hơn, linh hoạt hơn, sáng tạo hơn khi tổ chức các hoạt động, các tình huống giúp trẻ biết tránh xa những đồ vật gây nguy hiểm. Các góc hoạt động được sắp xếp khoa học hơn, đồ chơi luôn được thay đổi để đảm bảo an toàn cho trẻ. + Về trẻ: Trẻ có kiến thức, hiểu biết và không chơi với những đồ vật nguy hiểm. - Trẻ biết phòng tránh và xử lý tình huống khi gặp nguy hiểm. + Về phía phụ huynh: Phụ huynh cũng đã nhận thấy sự cần thiết của việc dạy trẻ không chơi với đồ vật nguy hiểm và phối hợp cùng giáo viên dạy trẻ. * Kết quả thống kê trước và sau khi thực hiện: - Nội dung 1: Trẻ nhận biết được những đồ vật gây nguy hiểm. - Nội dung 2: Có kỹ năng phòng tránh những đồ vật gây nguy hiểm. - Nội dung 3: Trẻ biết xử lý tình huống khi gặp nguy hiểm. PHẦND. CAM KẾT Tôi xin cam kết không sao chép hoặc vi phạm bản quyền; không sử dụng biện pháp đã được đề xuất để xét duyệt thành tích khen thưởng cá nhân trước đó; các biện pháp đã triển khai thực hiện và minh chứng về kết quả, sự tiến bộ của trẻ em là trung thực
File đính kèm:
day_tre_mau_giao_4_5_tuoi_khong_choi_voi_nhung_do_vat_nguy_h.docx