SKKN Giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi trong trường mầm non
Bạn đang xem tài liệu "SKKN Giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi trong trường mầm non", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
Tóm tắt nội dung tài liệu: SKKN Giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi trong trường mầm non
PHẦN A. ĐẶT VẤN ĐỀ. Bác Hồ kính yêu của chúng ta đã nhấn mạnh: “Tuổi nhỏ làm việc nhỏ, tùy theo sức của mình” Trong 5 điều bác Hồ dạy, nhưng trên thực tế trẻ bây giờ hầu như không phải làm gì cả. Điều này làm ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển toàn diện của trẻ. Chính vì vậy mà các nhà giáo dục, gần gũi hơn là các cô giáo mầm non là người uốn nắn, dìu dắt trẻ ngay từ lúc trẻ bắt đầu đến trường. Một trong những kỹ năng đó chính là rèn cho trẻ kỹ năng tự phục vụ để trẻ tự hòa mình, làm quen với những việc gần gũi hàng ngày như: Mặc quần áo, đi dầy dép, nhặt rác bỏ vào thùng, lau bàn ghế, dọn dẹp đồ dùng đồ chơi hay làm và đi vệ sinh sao cho đúng, tự chăm sóc bản thân, giúp đỡ người thân, bạn bè... Đây là một trong những nội dung rất quan trọng để hình thành một nhân cách sống cho trẻ, để trẻ tự tin trong xã hội. Ngày nay với sự phát triển kinh tế mạnh mẽ rất nhiều các bậc phụ huynh có ít thời gian để quan tâm hướng dẫn con làm những việc tự phục vụ bản thân, chính vì vậy trẻ thường hay ỉ lại và không thể tự lo cho bản thân. Khi gặp vấn đề gì thì trẻ thường nhờ vào người lớn mà không tự mình giải quyết. Điều này ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ. Tuổi mầm non là giai đoạn trẻ tiếp thu lĩnh hội những giá trị sống để phát triển nhân cách. Để nhằm giúp trẻ những điều nên và không nên làm, giúp trẻ tự tin, chủ động xử lý các tình huống trong cuộc sống, khơi gợi khả năng tư duy sáng tạo, đặt nền tảng cho trẻ trở thành người có trách nhiệm và có được thành công trong tương lai, thì việc hành trang cho trẻ những kiến thức, kỹ năng tự phục vụ bản thân là điều hết sức cần thiết. Để đạt được mục tiêu đó bản thân tôi là một giáo viên phải tìm cách hướng dẫn cho trẻ những kỹ năng sống kỹ năng tự phục vụ, kỹ năng giao tiếp ngay từ khi trẻ ở trường mầm non. Từ thực tế tại lớp tôi phụ trách tôi thấy vẫn còn nhiều trẻ chưa có kỹ năng tự phục vụ. Hiểu rõ được tầm quan trọng của việc rèn kỹ năng tự phục vụ cho trẻ, tôi mạnh dạn chọn biện pháp: “Giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi trong trường mầm non" PHẦN B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 1. Thực trạng công tác tổ chức: 1.1. Ưu điểm: - Nhà trường trang bị đầy đủ cơ sở vật chất, đồ dùng đồ chơi phục vụ công tác chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục trẻ. Thường xuyên tổ chức các lớp bồi dưỡng, sinh hoạt chuyên môn giúp giáo viên nâng cao trình độ, năng lực chuyên môn và kiến thức, kỹ năngtự phục vụ cho trẻ. - Học sinh trong lớp có nhận thức đồng đều. - Lớp có 02 giáo viên đạt trình độ trên chuẩn và có nhiều năm đạt giáo viên dạy giỏi cấp trường, cấp thành phố, cấp tỉnh... - Đa số phụ huynh có trách nhiệm và ý thức cùng phối hợp với giáo viên chủ nhiệm trong công tác chăm sóc giáo dục trẻ và trong các phong trào thi đua, hoạt động của lớp, của trường. 1.2. Tồn tại, hạn chế và nguyên nhân 1.2.1. Giáo viên: - Do số trẻ định biên trên nhóm lớp đông hơn so với quy định nên việc quan sát rèn luyện kỹ năng tự phục vụ cho trẻ còn hạn chế. - Việc lựa chọn nội dung và tổ chức các hoạt động giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ chưa được trú trọng chỉ mang tính chất tích hợp. 1.2.2. Trẻ em: - Trẻ em hiện nay do được nuông chiều, có cá tính bướng bỉnh và chưa có nề nếp thói quen kỹ năng tự phục vụ như:Khi chơi xong không cất đồ dùng, đồ chơi đúng nơi quy định, cởi quần áo để chưa gọn gàng, còn vụng về trong khi làm vệ sinh cá nhân.Trẻngại thể hiện các kỹ năng của mình,vì thiếu kinh nghiệm nên khi làm việc gì trẻ có ý nghĩ sợ làm sai, sợ mình không làm được, vì thế trẻ không muốn làm cũng như không tự tin thể hiện kỹ năng của mình. 1.2.3. Phụ huynh. - Một số phụ huynh thờ ơ, chưa chú trọng đến việc giáo dục kỹ năng tự phục vụ, còn nuông chiều trẻ, làm hộ trẻ, sợ trẻ quá sức nên vô tình hình thành thói quen ỉ lại ở trẻ, khiến cho giáo viên gặp rất nhiều khó khăn trong việc rèn kỹ năng tự phục vụ cho trẻ. 1.2.4. Cơ sở GDMN. - Nhà trường vẫn còn 1 khu lẻ nên việc trang bị đồ dùng còn không được đồng bộ.Các chuyên đề rèn kỹ năng tự phục vụ được lồng ghép chung trong kế hoạch chăm sóc giáo dục trẻ. 2. Biện pháp: 2.1. Biện pháp 1:Tạo môi trường giáo dục trong và ngoài lớp học. 2.1.1. Nội dung biện pháp: Môi trường lớp học tác động trực tiếp đến nhận thức của trẻ.Vì môi trường lớp học là nơi trẻ tiếp xúc hàng ngày.Môi trường lớp học có đầy đủ trang thiết bị, đồ dùng, đồ chơi, phong phú, đảm bảo yêu cầu thì sẽ tạo được môi trường giáo dục và học tập tốt.Chính vì vậy ngay từ đầu năm tôi đã phối hợp với giáo viên trong lớp thiết kế, xây dựng môi trường trong và ngoài lớp học theo quan điểm lấy trẻ làm trung tâm. 2.1.2. Cách thức, quá trình áp dụng biện pháp: * Xây dựng môi trường trong lớp: Bản thân đã chủ động xây dựng góc kỹ năng tự phục vụ phong phú như kỹ năng tết tóc, kỹ năng buộc dây giày, kỹ năng mặc quần áo, kỹ năng rửa tay, kỹ năng tự đánh răng Nhằm từng bước giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ. Đặc biệt tôi đã xây dựng môi trường lớp học theo hướng mở lấy trẻ làm trung tâm và thay đổi thường xuyên phù hợp với chủ đề chủ điểm giúp trẻ chủ động, tích cực quan sát thực hành khám phá trải nghiệm tạo cho trẻ kỹ năng hoạt động thường xuyên. Thông quacác góc rèn kỹ năng trẻ được thực hiện các bài tập rèn luyện tính độc lập, biết tự phục vụ bản thân từ đó trẻ có thêm kỹ năng và trở lên ngăn nắp, nề nếp hơn. * Xây dựng môi trường ngoài lớp học phù hợp, an toàn, sạch sẽ tạo cơ hội cho trẻ hoạt động đáp ứng nhu cầu của trẻ. Tạo môi trường ngoài lớp học để dạy trẻ kỹ năng tự phục vụ: Như ở cầu thang tôi dán các bước chân cho trẻ đi theo bước chân (dạy trẻ lên xuống cầu thang), góc giá để dép trang trí hình ảnh các bước (dạy trẻ cởi dép, đi dép, cất dép), khu vực tủ để đồ dùng cá nhân (dạy trẻ cất ba lô, cất áo vào tủ), góc uống nước (dạy trẻ lấy nước và uống nước) Ví dụ: Khu vực cầu thang: Tôi đã làm các kí hiệu bàn chân đi lên màu xanh lá cây đi xuống là những bông hoa có gắn chữ cái dán gần sát lan can cầu thang để nhắc nhở trẻ nhớ đi bên phải, khi lên và xuống cầu thang bước từng chân chắc chắn một tay vịn lan can cầu thang đi hết các bậc đi đến cửa lớp dừng tại giá dép để cất dép và cất ba lô. 2.1.3. Kết quả áp dụng biện pháp: Qua việc xây dựng môi trường trong và ngoài lớp học trẻ được trải nghiệm thực tế từ đó đã hình thành kỹ năng, thói quen cho trẻ trong lớp tôi biết cất đồ dùng cá nhân đúng nơi quy định, trẻ biết tự mặc, cởi quần áo, biết chải đầu buộc tóc, biết đi giầy và buộc dây giầy, biết tự đánh răng, rửa mặt, rửa tay theo đúng quy trình . 2.2. Biện pháp 2: Giáo dục kỹ năng tự phục vụ thông qua các hoạt động trong ngày. 2.2.1. Nội dung biện pháp: Đối với trẻ mầm non, một ngày diễn ra rất nhiều hoạt động khác nhau: Đón,trả trẻ, hoạt động học, hoạt động ngoài trời,hoạt động vui chơi, vệ sinh, ăn, ngủ, hoạt động lao động Thông qua từng hoạt động giáo dục chúng ta đều có thể tích hợp các nội dung giáo dục kỹ năng tự phụ vụ cho trẻ phù hợp nhất. Vì vậy tôi đã lựa chọn nội dung phù hợp với mỗi hoạt động, mỗi chủ đề để tích hợp giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ từ đó giúp trẻ khắc sâu và thực hiện thành thạo những công việc tự phục vụ cho bản thân mình. 2.2.2. Cách thức, quá trình áp dụng biện pháp: + Thông qua hoạt động đón, trả trẻ: Tôivừa giao tiếp với trẻ, với phụ huynh đồng thời cũng quan sát những hành động,kỹ năng của trẻ từ đó có những uốn nắn kịp thời cho trẻ. VD: Giờ đón trẻ:Tôi quan sát trẻ cất đồ dùng cá nhân vào đúng nơi quy định, đối với những trẻ cất đồ dùng chưa ngay ngắn gọn gàng tôi đã gần trẻ hướng dẫn động viên trẻ để ba lô gọn gàng ngay ngắn vào tủ cá nhân và giầy dép xếp thành đôi xinh sắn ngăn nắp trên kệ giá để dép. - Trước giờ trả trẻ: Tôi cho trẻ thực hiện các kỹ năng rửa mặt, rửa tay, sửa lại quần áo, chải đầu, buộc tóc gọn gàng, sạch sẽ trong thời gian chờ đợi bố mẹ đến đón. Từ đó trẻ hào hứng hơn có ý thức và kỹ năng tự làm những việc để phục vụ bản thân. + Thông qua hoạt động học: Hoạt động học là hoạt động mà tôi thường xuyên tích hợp giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ đạt hiệu quả.Ví dụ: Thông qua hoạt động tạo hình, tô chữ cái tôi cho trẻ cùng cô kê bàn ghế, tự chia vở, bút cho bạn và khi học xong trẻ tự thu đồ dùng, cất bàn ghế đúng nơi quy định. Việc trẻ được tự làm, chia vở, bút cho bạn và cất dọn đồ dùng sau khi mình dùng xong, có sự khích lệ và giúp đỡ của cô giáo khiến trẻ rất hào hứng khi tham gia hoạt động. + Thông qua hoạt động ngoài trời: Tôi cung cấp cho trẻ những kỹ năng tự phục vụ: Kỹ năng giữ gìn vệ sinh chung, ý thức bảo vệ, giữ gìn môi trường luôn sạch đẹp. Khi thấy rác biết tự nhặt rác bỏ vào nơi quy định, không vứt rác bừa bãi...Tôi thường khuyến khích trẻ tích cực tham gia các hoạt động như chăm sóc cây, con vật, quét dọn, nhặt lá cây rụng, vệ sinh sân trường. Ví dụ: Vào giờ hoạt động ngoài trời tôi cho trẻ quan sát: “Đồ dùng, dụng cụ của bác lao công”.Tôi cho trẻ xuống sân để tham gia hoạt động, trẻ có kỹ năng xuống cầu thang. Khi tham gia hoạt động có mục đích trẻ được quan sát quang cảnh sân trường và dụng cụ của bác lao công trò chuyện về công việc, dụng cụ lao động của bác. Tôi cho trẻ được trải nghiệm cách cầm chổi để quét rác trên sân, hót rác vào đúng nơi quy định? Từ đó trẻ sẽ có ý thức giữ gìn môi trường sạch sẽ và hình thành kỹ năng lao động của trẻ. Ngoài ra sau khi tham gia hoạt động ngoài trời tôi cho trẻ xếp hàng rửa tay sau đó đi về lớp rèn kỹ năng lên cầu thang, cất dép. Hàng ngày trẻ được thực hiện thường xuyên lặp đi lặp lại sẽ trở thành kỹ năng thuần thục. + Thông qua hoạt động vui chơi: Hoạt động vui chơi là hoạt động chủ đạo của trẻ mầm non.Ở các góc chơi trẻ thể hiện các vai chơi, đóng làm người lớn bắt chước những công việc của người lớn. Cũng chính tại hoạt động vui chơi trẻ sẽ “bộc lộ” sự sáng tạo, những kinh nghiệm của bản thân. Ví dụ: Qua góc chơi phân vai với trò chơi “Bác sỹ”. Trẻ được làm quen với những đồ dùng, dụng cụ y tế khác nhau như: Tai nghe, bông băng, xi lanh tiêm Sự sạch sẽ, gọn gàng, một thói quen nền nếp, sự sắp đặt ngăn nắp, ngay ngắn những bộ đồ dùng, vật dụng, thái độ của bác sỹ khi khám chữa bệnh cho bệnh nhân, sựđộng viên chăm sóc của cô y tá để giúp bệnh nhân mau khỏi bệnh... Tất cả những yếu tố trên sẽ giúp trẻ có thói quen tốt để hình thành kỹ năng tự phục vụ và ý nghĩa hơn là kỹ năng sống tự lập sau này. Hoặc trò chơi gia đình trẻ được đóng vai bố, mẹ, bế em, chải tóc cho em, cài cúc áo, đi tất, cho em ăn Từ những hoạt động hàng ngày của người lớn mà trẻ đã vận dụng vào xã hội thu nhỏ thông qua hoạt động vui chơi. Trong quá trình chơi tôi luôn nhắc nhở trẻ biết bảo quản, giữ gìn đồ chơi, khi chơi xong thu dọn cất đồ dùng, đồ chơi vào đúng nơi quy định. + Thông qua giờ ăn, ngủ: Giờ ăn: Tôi dạy trẻ kỹ năng tự phục vụ như: Chuẩn bị kê bàn ăn giúp cô, xếp ghế, gập khăn để vào đĩa Rèn tính tự lập biết tự rửa tay sạch sẽ trước khi ăn, chỉ ăn tại bàn ăn, biết cách sử dụng những đồ dùng, vật dụng trong ăn uống, khi ăn không làm rơi vãi cơm và thức ăn, biết mời cô mời bạn trước khi ăn, ăn hết suất và biết tự dọn, bát, thìa, bàn ghế khi ăn xong Giờ ngủ: Tôi cho trẻ giúp cô kê phản, trải chiếu, tự lấy và cất gối đúng nơi quy định. Giúp cô gấp chăn, cất chiếu, kê phản sau khi ngủ dạy. + Thông qua lao động: Vào mỗi thứ năm hàng tuần, tôi tổ chức cho trẻ tham gia lao động vệ sinh, sắp xếp các góc chơi, lau đồ dùng các góc Thông qua hoạt động này trẻ được thảo luận, làm việc nhóm cùng nhau hoàn thành tốt công việc của mình.Trẻ biết giữ gìn vệ sinh, sắp xếp đồ chơi gọn gàng sạch sẽ.Từ đó tính tự giác, ý thức và kỹ năng của trẻ cũng được hình thành, trẻ sẽ chủ động trong hoạt động mà không phụ thuộc vào cô giáo nữa. + Thông qua hoạt động nêu gương: Khi trẻ làm được việc gì tốt tôi chụp lại hình ảnh của trẻ.Trước khi vào hoạt động tôi cho trẻ xem lại những hình ảnh trẻ cùng tham gia với các bạn trong ngày.Cho trẻ nhận xét xem bạn nào biết giúp cô những việc vừa sức bạn nào chưa.Qua hình ảnh đó tôi tuyên dương và khen ngợi trẻ về những việc trẻ đã tự làm.Trẻ sẽ cảm thấy tự hào khi được nhìn thấy những hình ảnh về công việc mình đã làm và cố gắng phấn đấu và tự giác hơn khi làm công việc khác, các trẻ khác sẽ học tập bạn và phấn đấu cho mình.Từ đó trẻ nhận ra rằng hành động đó của mình là tốt hay chưa tốt và cần phải thay đổi ở những lần sau.Tôi động viên, khen ngợi cho trẻ lên cắm cờ. 2.2.3. Kết quả áp dụng biện pháp: Việc rèn trẻ các kỹ năng tự phục vụ trong các hoạt động trong ngày như vậy, trẻ đã đạt được kết quả cụ thể như sau: Trước khi áp dụng biện pháp Sau khi áp dụng biện pháp Nhận thức, hành vi Trẻ đạt Tỷ lệ % Trẻ đạt Tỷ lệ % Trẻ biết cất,giữ gìn, vệ sinh và bảo quản đồ dùng 16/39 41% 39/39 100% đồ chơi. Trẻ biết làm vệ sinh cá 19/39 48,7% 39/39 100% nhân Trẻ biết cất đồ dùng cá nhân đúng cách, đúng 20/39 51,2% 39/39 100% nơi quy định Trẻ biết làm những công 20/39 51,2% 39/39 100% việc vừa sức. Trẻ có thói quen bảo vệ 16/39 41% 38/39 97,4% môi trường. 2.3. Biện pháp3: Tuyên truyền, phối kết hợp với phụ huynh học sinh trong việc giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ mầm non. 2.3.1. Nội dung biện pháp: Gia đình giữ vai trò quan trọng trong giáo dục trẻ mầm non. Kết quả giáo dục trẻ phụ thuộc một phần lớn vào việc kết hợp của trường mầm non với gia đình. 2.3.2. Cách thức, quá trình áp dụng biện pháp: - Thông qua buổi họp phụ huynh học sinh tôi tuyên truyền tới các bậc phụ huynh cùng kết hợp với cô giáo để rèn cho trẻ có kỹ năng tự phục vụ như: Biết rửa tay trước khi ăn, sau khi đi vệ sinh và khi tay bẩn, biết tự mặc cởi quần áo và biết tự xúc ăn gọn gàng, biết sắp xếp đồ dùng ngăn nắp Đồng thời trao đổi với phụ huynh qua sổ liên lạc để nắm bắt tâm lý của từng trẻ từ đó phối hợp chặt chẽ hơn nữa với phụ huynh cách rèn kỹ năng tự phục vụ cho trẻ ở lớp cũng như ở nhà. - Thông qua giờ đón trả trẻ, tôi tuyên truyền cho phụ huynh sự cần thiết phải rèn cho trẻ có những kỹ năng tự phục vụ phù hợp với lứa tuổi như: Cất ba lô giày dép đúng nơi quy định. Người lớn chỉ là người hướng dẫn, giúp đỡ, động viên chứ không làm hộ trẻ. - Thông qua bảng tuyên truyền: Tôi thường xuyên ghi thông điệp trên bảng tin của lớp những nội dung cơ bản về rèn kỹ năng tự phục vụ để trẻ thực hiện ở lớp cũng như ở nhà. - Thông qua nhóm zalo của lớp, tôi gửi các hình ảnh bé tự làm được các việc nhỏ vừa sức để các bậc phụ huynh yên tâm hơn, hài lòng hơn và các gia đình khác cũng lấy đó là tấm gương để giáo dục con em mình cùng thực hiện. 2.3.3. Kết quả áp dụng biện pháp: - Từ buổi họp phụ huynh và những buổi tuyên truyền trực tiếp tới phụ huynh qua giờ đón, trả trẻ, qua sổ liên lạc, qua zalo... tôi thấy đa số các bậc phụ huynh đều quan tâm giáo dục con kỹ năng tự phục vụ. Trong một thời gian trẻ lớp tôi đã có những tiến bộ rõ rệt. - Phụ huynh rèn trẻ có thói quen tự phục vụ khi ở nhà. Đạt 100% PHẦN C. MINH CHỨNG VỀ HIỆU QUẢ CỦA BIỆN PHÁP * Để thực hiện biện pháp này có hiệu quả tôi tiến hành nghiên cứu và tham khảo một số tài liệu sau: - Sách giúp trẻ kỹ năng tự phục vụ và thể hiện bản thân của nhà xuất bản giáo dục dân trí. - Sách hướng dẫn thực hiện chương trình giáo dục mầm non mới (Đã sửa đổi theo thông tư) - Kế hoạch thực hiện nhiệm vụ năm học 2021 - 2022 của nhà trường. - Kế hoạch số: 05/KHCSGD-MN ngày 03 tháng 9 năm 2021 về Kế hoạch thực hiện chương trình chăm sóc, giáo dục trẻ 5 - 6 tuổi năm học 2021 - 2022. Ngoài ra tôi còn tìm hiểu tâm sinh lý trẻ ở lớp tôi để có những biện pháp phù hợp mang lại hiệu quả cao khi thực hiện biện pháp “Giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi”. - Nghiên cứu sách, báo, tivi, Internet * Hiệu quả của biện pháp - Sau khi sử dụng các biện pháp mà bản thân tôi đưa ra để áp dụng cho trẻ lớp mình. Tôi cảm thấy rất phù hợp với đối tượng trẻ và thực tiễn của nhà trường. Biện pháp: “Giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi trong trường mầm non” cho thấy chất lượng giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ lớp tôi tăng lên rõ rệt. - Kết quả đạt được về nhận thức, hành vi trước và sau khi áp dụng biện pháp: Trước khi áp dụng Sau khi áp dụng Stt Nhận thức, hành vi Số trẻ % Số trẻ % Trẻ biết cất đồ dùng đồ chơi đúng nơi quy 1 16/39 41% 39/39 100% định gọn gàng ngăn nắp. Trẻ biết làm vệ sinh cá nhân (đi vệ sinh, 2 19/39 48,7% 39/39 100% rửa tay, rửa mặt, đánh răng, chải đầu...) Trẻ biết mặc cởi quần áo, đi giầy dép. Cất 3 20/39 51,2% 39/39 100% đồ dùng cá nhân. Trẻ có thói quen phục vụ. Biết làm những 4 20/39 51,2% 39/39 100% công việc vừa sức của mình. 5 Trẻ có thói quen bảo vệ môi trường. 16/39 41% 38/39 97,4% Phụ huynh rèn trẻ có thói quen tự phục 6 18/39 46,1% 39/39 100% vụ khi ở nhà. Số liệu trên được thể hiện trong biểu đồ minh họa sau: PHẦN D. CAM KẾT Tôi cam kết không sao chép hoặc vi phạm bản quyền; không sử dụng biện pháp đã được đề xuấtđể xét duyệt thành tích khen thưởng cá nhân trước đó; các biện pháp đã triển khai thực hiện và minh chứng về kết quả, sự tiến bộ của trẻ lớp 5A6 trường mầm non Tân Tiến là trung thực./.
File đính kèm:
skkn_giao_duc_ky_nang_tu_phuc_vu_cho_tre_mau_giao_5_6_tuoi_t.docx