SKKN Một số biện pháp phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ lớp 5-6 tuổi B5 Trường Mầm non Yên Lư
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "SKKN Một số biện pháp phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ lớp 5-6 tuổi B5 Trường Mầm non Yên Lư", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
Tóm tắt nội dung tài liệu: SKKN Một số biện pháp phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ lớp 5-6 tuổi B5 Trường Mầm non Yên Lư
1: PHẦN MỞ ĐẦU 1.1. Lý do chọn sáng kiến Giao tiếp là một nhu cầu không thể thiếu của mỗi con người, nhờ có kỹ năng giao tiếp mà con người có thể chung sống và hòa nhập trong một xã hội. Thông qua giao tiếp mà con người tiếp thu, lĩnh hội các giá trị văn hoá tinh thần trong nền văn hoá xã hội, các chuẩn mực đạo đức để hình thành, phát triển các phẩm chất nhân cách, đạo đức, hành vi, thói quen. Nhừ có giao tiếp mà các mối quan hệ trong xã hội cũng được hình thành. Trẻ mầm non có nhu cầu giao tiếp rất lớn, nhờ vào giao tiếp để trẻ biết cách giao tiếp với mọi người xung quanh, biết tập trung chú ý khi giao tiếp, biết cách tiếp cận và biết bày tỏ thái độ, quan điểm của mình bằng lời nói, cử chỉ, điệu bộ, nét mặt, biết cách giải quyết những tình huống trong cuộc sống, biểu đạt những mong muốn, cảm xúc, suy nghĩ, làm những việc nên làm, đồng thời biết lắng nghe và hiểu người khác. Đây là một nội dung vô cùng quan trọng trong chăm sóc và giáo dục cho trẻ em độ tuổi mầm non. Vì vậy, để thực hiện các mục tiêu giáo dục cho trẻ thì điều cần thiết là phải hình thành và phát triển ở các con kĩ năng giao tiếp ngay từ lứa tuổi mầm non. Kĩ năng giao tiếp không phải bẩm sinh, di truyền mà nó được hình thành và phát triển trong quá trình sống, quá trình hoạt động, trải nghiệm, luyện tập, rèn luyện... Đối với trẻ 5-6 tuổi nhu cầu về ngôn ngữ của trẻ ở giai đoạn này là rất lớn.Trẻ khao khát được tìm hiểu về thế giới xung quanh, thông qua ngôn ngữ trẻ được thể hiện mình, được thể hiện những hiểu biết mà mình có. Nhưng không phải trẻ nào cũng biết cách thể hiện vì khả năng giao tiếp và vốn từ của trẻ còn hạn chế. Và nếu giáo viên không tìm ra những phương pháp mới nhằm tạo ra sự hứng thú cho trẻ và giúp trẻ cảm nhận được lợi ích của việc phát triển khả năng giao tiếp thì sẽ dễ dàng khiến trẻ nhàm chán, không muốn tham gia vào các hoạt động mà cô đưa ra. Thông qua quá trình phát triển ngôn ngữ cho trẻ, cô có thể tạo cho trẻ hứng thú tìm hiểu về thế giới xung quanh, tri giác các sự vật, hiện tượng. Nhờ đó, mà kích thích sự tò mò, kích thích sự ham hiểu biết của trẻ, giúp trẻ phát triển tư duy và phát triển thế giới quan cho trẻ. Tránh được sự thụ động, chứng tự kỉ khi trẻ không thể hòa nhập với mọi người xung quanh. Việc phát triển kĩ năng giao tiếp cho trẻ ngay từ lứa tuổi mầm non là vô cùng quan trọng. Qua thực tế, tôi nhận thấy khả năng giao tiếp của trẻ còn nhiều bất cập. Trẻ chưa biết cách giao tiếp, ứng xử với mọi người xung quanh. Một số trẻ có kĩ năng thì cũng chỉ dừng ở kĩ năng cơ bản như chào, hỏi, cảm ơn, xin lỗi. Với những kĩ năng khó hơn như: trao đổi, chia sẻ, nghe và hiểu trẻ vẫn rất bỡ ngỡ. Điều này, khiến trẻ gặp rất nhiều khó khăn trong cuộc sống cũng như trong học tập. Là một giáo viên mầm non, việc dạy trẻ kĩ năng giao tiếp là một trong những việc làm thường xuyên và xuyên suốt trong quá trình giảng dạy. 1 Kĩ năng giao tiếp của trẻ không nhất thiết là phải truyền tải qua các tiết học mà nó được lồng ghép trong các hoạt động trong ngày. Là việc thường xuyên thực hiện nhưng không phải giáo viên nào cũng nắm bắt được các biện pháp giúp trẻ phát triển kĩ năng giao tiếp một cách tốt nhất. Vì vậy, tôi đã đúc rút những kinh nghiệm của mình qua những năm tháng giảng dạy để đưa ra “Một số biện pháp phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ lớp 5- 6 tuổi B5 Trường Mầm non Yên Lư”. 1.2. Điểm mới trong sang kiến Đây là đề tài đã có rất nhiều đồng chí nghiên cứu, xong điểm mới mà tôi đưa ra đó là: Lấy trẻ làm trung tâm, tạo môi trường hoạt động linh hoạt, sáng tạo khiến cho trẻ không cảm thấy bị gò ép, bó buộc. Đưa ra một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng việc phát triển giao tiếp cho trẻ 5-6 tuổi trong trường mầm non. Những biện pháp trong sáng kiến được tôi tiến hành trực tiếp bằng cơ sở vật chất tại lớp và trên trẻ lớp tôi qua các hoạt động tôi xây dựng hàng ngày. Đã mang lại những hiệu quả vô cùng thiết thực, có khả năng áp dụng đồng bộ cao, tôi mong muốn sẽ được áp dụng trong trường tôi cũng như các trường mầm non nói chung. Với những kinh nghiệm đã có trong quá trình giảng dạy, tôi đã mạnh dạn áp dụng các biện pháp mới nhằm phát triển và tăng cường khả năng giao tiếp cho trẻ mầm non, đặc biệt là trẻ 5-6 tuổi. Trong quá trình áp dụng tôi nhận thấy khả năng giao tiếp của học sinh tăng từ mức trung bình ở thời điểm khảo sát lúc ban đầu, đã đạt mức tốt, khá ở thời điểm khảo sát nghiệm thu kết quả của việc áp dụng sáng kiến. Vì vậy, việc áp dụng các biện pháp phát triển giao tiếp cho trẻ đã mang lại những lợi ích thiết thực, giúp trẻ tự tin hơn trong học tập cũng như trong cuộc sống. 2. Phần nội dung 2.1. Thực trạng của nội dung cần nghiên cứu 2.1.1. Ưu điểm - Được sự quan tâm của Ban giám hiệu nhà trường luôn quan tâm, động viên, tạo điều kiện tốt cho giáo viên nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, tạo điều kiện cho giáo viên làm việc. - Cơ sở vật chất nhà trường được xây dựng khang trang, sạch sẽ. - Đồng nghiệp than thiện cởi mở chia sẻ kinh nghiệm chăm sóc giáo dục trẻ. - 100% giáo viên đạt trình độ chuẩn, nhiều giáo viên có trình độ đạt trên chuẩn, một số hiện nay đang theo các lớp học tập nâng cao trình độ trên chuẩn. - Trẻ ngoan có nề nếp trong các hoạt động giáo dục. 2 - Trong lớp 100% trẻ có cùng một độ tuổi 5 - 6 tuổi và ăn bán trú tại trường. - Bản thân tôi luôn tìm tòi, học hỏi, trau dồi kiến thức, có khả năng sáng tạo về đổi mới phương pháp và làm đồ dùng, đồ chơi phục vụ môn học thêm sinh động, hấp dẫn trẻ phù hợp chương trình mầm non mới. - Bản thân luôn gần gũi hoà nhập với trẻ, hơn nữa tôi luôn quan sát nắm bắt được đặc điểm riêng, tâm sinh lý, thói quen của từng trẻ trong lớp. - Phụ huynh đa phần là phụ huynh còn trẻ, ông bà vẫn trong độ tuổi lao động rất nhanh nhẹn và quan tâm tới con, cháu. 2.1.2. Hạn chế và nguyên nhân hạn chế - Lớp có nhiều học sinh vốn ngôn ngữ còn hạn hẹp, kỹ năng nghe hiểu, sử dụng ngôn từ còn hạn chế - Có một số góc chơi thường xuyên tập trung quá nhiều trẻ tham gia nên khó khăn cho việc tổ chức và điều hành của cô. - Có những cháu quá hiếu động nên trong quá trình chơi có ảnh hưởng chưa tích cực dến tiến trình hoạt động. - Trong lớp còn một số trẻ còn ngọng, rụt rè, nhút nhát, thiếu tự tin và không muốn tham gia vào hoạt động. Tuổi mẫu giáo trẻ còn nhỏ, việc hình thành kỹ năng giao tiếp cho trẻ là một vấn đề không hề dễ dàng, không thể thực hiện trong thời gian nhất định mà phải rèn luyện lâu dài, hàng ngày. - Trình độ nhận thức của trẻ không đồng đều, do đó cùng một thời gian và biện pháp dạy trẻ nhưng kết quả trên trẻ đạt chưa tương đương với nhau - Một số giáo viên, khu vực dân cư phụ trách nhóm lớp còn ngọng nhất là ngọng “n, l” nên việc sửa sai cho trẻ và rèn trẻ còn hạn chế. - Đa số phụ huynh là nông thôn, làm công nhân đi sớm về muộn nên sự quan tâm của gia đình dành cho các cháu là không đồng đều. Một số phụ huynh đi làm ăn xa để các cháu ở nhà với các anh chị hoặc ông bà đã già, nên trên thiếu hụt tình cảm, một số chưa dành thời gian trò chuyện để tìm hiểu tâm tư nguyện vọng của trẻ để giáo dục trẻ mà chỉ biết chiều theo mọi đòi hỏi của trẻ, trẻ được đáp ứng quá đầy đủ về nhu cầu trẻ cần. Bên cạnh đó, đa số phụ huynh chưa thật sự quan tâm tới việc con mình nghĩ gì, nói gì? Chỉ quan tâm tới một phần lễ giáo khi con nói chuyện “thưa”, “dạ” là được rồi, chưa tham gia trò chuyện để luyện cho con cách phát âm, nói cho đủ câu, sử dụng ngôn từ cho phù hợp. Bảng khảo sát kĩ năng giao tiếp của trẻ trước khi áp dụng các biện pháp: Các thói quen Kỹ năng nghe Kỹ năng trao đổi Kỹ năng chia sẻ văn minh T: 3 = 13% T: 2 = 16,7 % T: 3 = 13% T: 5 = 21,7% 3 K: 5 = 21,7% K: 8 = 34,8% K: 6 = 26,1% K: 7 = 30,5% TB: 7 = 30,5% TB: 5 = 21,7% TB: 8 = 34,8% TB: 6 = 26,1% Y: 8 = 34,8% Y: 8 = 34,8% Y: 6 = 26 ,1% TB: 6 = 26,1% 2.2. Kết quả, giải pháp 2.2.1. Giải pháp Biện pháp 1: Biện pháp phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ thông qua hoạt động đón trả trẻ: - Trong giờ đón trả trẻ tôi phải là người tạo cho trẻ có tình huống được thể hiện ngôn ngữ riêng của mình, thường xuyên trao đổi với phụ huynh về tình hình sức khỏe học tập của trẻ để cha mẹ cùng cô giáo kết hợp rèn trẻ. Tôi gần gũi trẻ như một người bạn tôi đã tâm sự và phân tích cho trẻ hiểu, luôn âu yếm vỗ về trẻ. Từ đó đã hiểu được tâm lí của trẻ giúp cho trẻ có được cảm giác thoải mái khi vào lớp. Có những trẻ được bố mẹ chiều chuộng đáp ứng đầy đủ mọi nhu cầu của trẻ làm gì cũng đã có người giúp việc chỉ cần nhìn vào một đồ dùng đồ vật nào đó đã có người đáp ứng ngay mà không cần dùng ngôn ngữ yêu cầu hoặc xin phép. Biết được điều đó tôi đã trao đổi với phụ huynh vì sao con lại chưa mạnh dạn, chưa có những kĩ năng ứng xử đúng mực với cô giáo và các bạn và ở lứa tuổi này trẻ đã có một số kĩ năng tự phục vụ bản thân mình nhưng con chưa làm được điều đó chính bản thân gia đình cũng đã biết. Tôi cùng kết hợp với phụ huynh uốn nắn rèn trẻ từ đó trẻ rất mạnh dạn tự tin giao tiếp với mọi người. - Khi đến giờ trả trẻ tôi gợi hỏi trò chuyện với trẻ để trẻ nói lên suy nghĩ của mình về buổi đến trường hôm nay của trẻ. Tôi hỏi trẻ: Cháu thích gì? Cháu không thích điều gì? Hôm nay cô dạy con bài học gì? Trong lớp các bạn chơi với nhau như thế nào? . Từ đó ngôn ngữ của trẻ sẽ phát triển tự tin hơn trong giao tiếp, mạnh dạn hơn khi trò chuyện với mọi người. Trong hoạt động này tôi nhắc nhở trẻ về kể lại cho bố mẹ những hoạt động con được tham gia trong ngày hôm nay, những gì con đã được làm, những gì con chưa làm được. Tôi đã ân cần trao đổi trực tiếp với cha mẹ trẻ hàng ngày trong giờ đón trả trẻ, thông báo nhanh với cha mẹ về tình hình của trẻ trong ngày, lắng nghe bố mẹ trẻ trao đổi một số đặc điểm của trẻ. Từ đó, giúp mối quan hệ giữa cha mẹ trẻ với trẻ, trẻ và các thành viên trong gia đình quan tâm tới trẻ nhiều hơn trong cách giao tiếp, tiếp xúc hàng ngày. 4 Hình ảnh: Cô và trẻ trò chuyện trong giờ đón và trả trẻ * Kết quả: Qua một năm thực hiện biện pháp này tôi đã thấy được sự thay đổi rõ ràng của học sinh. Từ phải nhắc nhở các cháu giờ rất tự tin mạnh dạn chào hỏi, không những chào hỏi các cô tại lớp, các cô các bác trong trường, người thân trong nhà các cháu còn vui vẻ chào hỏi những người lớn xung quanh trẻ và bố mẹ của các bạn trong lớp. Kĩ năng lắng nghe, chia sẻ của trẻ trong lớp tiến bộ rõ rệt. Biện pháp 2: Biện pháp phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ thông qua hoạt động học: Chúng ta đã và đang thực hiện chương trình giáo dục mầm non mới, lấy trẻ làm trung tâm, trong đó giáo viên chỉ là người hướng dẫn gợi mở. Để đưa nội dung rèn kĩ năng giao tiếp vào các hoạt động học một cách có hiệu quả thì việc tôi đã làm như sau: Xác định mục đích rõ rang, phù hợp với trẻ, đúng với đặc trưng của hoạt động, lồng ghép nội dung phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ. Việc lồng ghép nội dung này vào các tiết học đảm bảo việc trẻ vẫn có thể tiếp thu được các kiến thức cô truyền đạt đồng thời có được các kĩ năng giao tiếp. Ví dụ: HĐ tạo hình. Yêu cầu trẻ vẽ được con cá có hình dáng khác nhau. Lồng ghép kĩ năng giao tiếp: Trẻ miêu tả được cách vẽ, thao tác vẽ được con cá, nêu đặc điểm của con cá rõ rang mạch lạc. Khi tổ chức hoạt động cần bám sát vào mục đích yêu cầu đã đưa ra. Cô luôn là người gợi mở để trẻ suy ngẫm và giải quyết tình huống, đưa ra những câu trả lời. Cô lắng nghe để biết được nhận thức của trẻ được đến đâu và câu trả lời đó đã phù hợp với hoạt động chưa? Từ đó cô nắn chỉnh lại câu từ, ngôn ngữ giao tiếp cho phù hợp. VD: Khi cho trẻ tham gia tạo hình. Trẻ được cùng cô thảo luận về đề tài mà cô đưa ra, qua đó trẻ được nói, được thể hiện những cảm xúc và suy nghĩ của bản thân về đề tài. Sau khi trẻ hoàn thiện sản phẩm, cô cho trẻ xem và nhận xét về bài của mình và bài của bạn. Quá trình nhận xét sản phẩm trẻ sẽ thể hiện được khả năng giao tiếp của mình, tôi cũng có cơ hội để uốn nắn và rèn kĩ năng giao tiếp cho trẻ. 5 Việc tạo cơ hội cho trẻ trong các hoạt động học là rất cần thiết để trẻ có tâm lí thoải mái. Bên cạnh đó những tình huống ngắn sẽ tạo cho trẻ hứng thú hơn, khả năng phản xạ nhanh hơn. Trong các giờ hoạt động học tôi luôn là người tạo cơ hội quan tâm đến từng cá nhân, cho trẻ lên phát biểu bài, đặt ra nhiều câu hỏi tạo nhiều tình huống cho trẻ được giao tiếp. Ví dụ: Trong hoạt động làm quen văn học tiết thơ (tôi tập chung rèn các cháu còn nhút nhát trong giao tiếp và sợ đám đông): Cô thấy các con đọc thơ rất là hay và thuộc bài thơ rồi, bạn Tiến Đạt có giọng đọc thơ rất là hay nhẹ nhàng tình cảm. Bạn Tiến Đạt đọc lại bài thơ cho cả lớp cùng nghe nhé! Các con thấy bạn Tiến Đạt đọc thơ như thế nào? Bạn đọc thơ rất hay diễn cảm, bạn Tiến Đạt hơi nhút nhát một chút nhưng hôm nay bạn đã mạnh dạn đọc thơ cho cả lớp cùng nghe các bạn khác ai dũng cảm, mạnh dạn như bạn Tiến Đạt lên đọc thơ nào? Đặc điểm tâm lí của trẻ mẫu giáo là đồ dùng trực quan. Việc sử dụng đồ dùng trực quan đem lại hiệu quả cao trong việc phát triển kĩ năng giao tiếp cho trẻ. Khi trẻ nhìn vào đồ dùng đó trẻ có những nhận xét, miêu tả mà mình cho là hay, là đúng, kể được những câu chuyện mà trẻ tự tưởng tượng ra. Trong lúc này cô là người rất cần thiết để bổ xung cho trẻ những ý tưởng phong phú, những câu nói hay phù hợp với lứa tuổi của trẻ.VD: Trẻ quan sát tranh, lắng nghe cô kể chuyện “Ba cô gái”. Khi cô cho trẻ quan sát những bức tranh tương tự trẻ có thể tự mình kể lại chuyện theo ý hiểu hoặc còn kể thành một câu chuyện khác mà trẻ cho là hay Cách dạy trẻ kể lại được câu truyện cô dạy trong giờ học hàng ngày hay những buổi dạo chơi, tham quan, lễ hội của quê hương gợi cho trẻ những điều thú vị ấn tượng của mình vào hình thức kể truyện được sinh động cũng là cách thúc đẩy, phát triển khả năng giao tiếp của trẻ.. Ví dụ: Họat động tạo hình vẽ con cá. Ví dụ: Trong hoạt động văn học truyện “Quả bầu tiên” tôi đặt ra một số câu hỏi mở cho trẻ trả lời như: + Cậu bé trong chuyện đã làm gì với chim én? + Nếu con là cậu bé trong câu chuyện con sẽ làm gì với chim én? Việc đặt những câu hỏi như vậy không những giúp trẻ phát triển tư duy còn giúp trẻ phát triển ngôn ngữ 1 cách tự nhiên điều đó sẽ giúp cho việc tích lũy vốn từ trong quá trình giao tiếp của trẻ. Trong các giờ hoạt động học tôi luôn là người tạo cơ hội quan tâm đến từng cá nhân, cho trẻ lên phát biểu bài, đặt ra nhiều câu hỏi tạo nhiều tình huống cho trẻ được giao tiếp. Ví dụ: Trong giờ văn học tiết thơ (tôi tập chung rèn các cháu còn nhút nhát trong giao tiếp và sợ đám đông): Cô thấy các con đọc thơ rất là hay và thuộc bài thơ rồi, bạn Phương Thảo có giọng đọc thơ rất là hay nhẹ nhàng tình 6 cảm. Bạn Phương Thảo đọc lại bài thơ cho cả lớp cùng nghe nhé! Các con thấy bạn Phương Thảo đọc thơ như thế nào? Bạn đọc thơ rất hay diễn cảm, bạn Phương Thảo hơi nhút nhát một chút nhưng hôm nay bạn đã mạnh dạn đọc thơ cho cả lớp cùng nghe các bạn khác ai dũng cảm, mạnh dạn như bạn Phương Thảo lên đọc thơ nào? Qua đó tôi vừa rèn khả năng trình bày trước lớp, trước đám đông cho trẻ mà còn tạo điều kiện cho trẻ học tập nhau và có tinh thần cố gắng thi đua trong học tập. Như vậy trong tất cả các hoạt động học rất cần sự mạnh dạn tự tin giao tiếp của trẻ từ đó mới giúp cho trẻ tư duy phát triển và tự tin học bài. Cho trẻ xem tranh, kể chuyện theo nội dung bức tranh cũng là hình thức phát triển ngôn ngữ mạch lạc và giao tiếp mạnh dạn. Hoạt động làm quen với văn học là hoạt động chủ đạo giúp trẻ phát huy ngôn ngữ của mình. Cô giáo thường xuyên tổ chức hình thức kể truyện, đọc thơ đóng kịch cho trẻ tham gia. Phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ thật cần thiết, nhưng đòi hỏi tôi phải luôn gần gũi trẻ, hiểu trẻ tạo mọi cơ hội để trẻ được nói thật thoải mái ở mọi nơi, vì khi nào trẻ sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ lưu loát thì trẻ mới có cơ hội phát triển toàn diện. Để phát triển tư duy cho trẻ, phản xạ nhanh, sử dụng ngôn ngữ chính xác, yêu cầu trẻ phải tri giác một sự vật, 1 hiện tượng và nói nhanh những gì trẻ thấy. VD: Trong trò chơi: “Nhìn hình ảnh kể sự việc” Tôi cho trẻ xem một số hình ảnh như trẻ khoanh tay, bê cốc bằng hai tay . Hỏi trẻ: Đố các con biết hình ảnh này được nói như thế nào? Có thể sẽ có cháu nói: Bạn chào cô giáo, cháu lấy nước cho ông .Qua đó tôi vừa có thể rèn cho trẻ kỹ năng giao tiếp với người thân, người lớn trong nhà và kỹ năng sống, kỹ năng ứng sử cho trẻ. Có thể nói trong tất cả các hoạt động học cô giáo phải là người sáng tạo tìm ra mọi hình thức để thúc đẩy phát triển tư duy, ngôn ngữ phát triển kỹ năng giao tiếp ở trẻ. 7 Hình ảnh: Trẻ quan sát tranh, nghe cô kể chuyện và tự kể chuyện theo tranh Kết quả: Thông qua hoạt động học sự giao tiếp giữa cô và trẻ, giữa trẻ và trẻ được diễn ra một cách chủ động tự nhiên, ngôn ngữ của trẻ được phát triển. Qua hoạt động học kĩ năng giao tiếp hình thể của trẻ cũng được hình thành rõ hơn, ngôn ngữ mạch lạc và nhân cách của trẻ cũng thay đổi rõ rệt. Kĩ năng lắng nghe, biết chờ đến lượt khi giao tiếp dàn hoàn thiện. Biện pháp 3: Biện pháp phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ thông qua hoạt động vui chơi góc: Bên cạnh hoạt động học có chủ đích thì hoạt động góc luôn giữ một vai trò chủ đạo, vì thông qua hoạt động góc giáo viên biết cần phải cho trẻ chơi cái gì? Chơi như thế nào để đem lại kiến thức phục vụ cho hoạt động học phục vụ cho sự phát triển tư duy, thể chất, tình cảm – xã hội và ngôn ngữ của trẻ, củng như hiểu biết kiến thức về thế giới xung quanh và có một điều rất quan trọng là thông qua hoạt động góc là hoạt động mà giữa các trẻ tự chơi với nhau và đóng vai như một xã hội thu nhỏ, vì thế giáo viên cần hướng trẻ đến việc giao tiếp có văn hóa với các bạn trong lớp (Biết xưng tên, gọi bạn, xưng hô phù hợp với vai chơi, trao đổi nhẹ nhàng với bạn ). Muốn trẻ phát triển tốt thì cô giáo phải là người thể hiện tốt nhiệm vụ của mình, luôn linh động, sáng tạo giúp trẻ thông qua “Chơi mà học, học mà chơi”. Chính trong quá trình hoạt động góc tại lớp giáo viên mới quan sát, ghi nhận được những thái độ, hành vi chơi của trẻ, không phải đứa trẻ nào cũng chơi ngoan, chơi tốt và có sự hợp tác với bạn khi chơi. . Rèn kĩ năng giao tiếp ở hoạt động chơi theo góc tôi đã thực hiện rất tốt như sau: *Thiết kế góc chơi Tôi thiết kế góc, bố trí tạo không gian hợp lí ở các góc chơi cho trẻ. Bố trí những góc ồn ào ở xa các góc yên tĩnh nhằm tạo hiệu ứng chơi tốt nhất. Có danh giới giữa các góc rõ ràng, sử dụng tường hoặc các giá tủ để chia khoảng cách giữa các góc chơi. Có thể tận dụng mặt sau các giá đồ chơi để treo tranh ảnh, đồ dùng tự tạo do bé làm ra để trang trí phù hợp với góc chơi tạo cho trẻ hứng thú chơi. Có lối đi giữa các góc đủ rộng cho trẻ di chuyển. Đặt tên góc sao cho dễ hiểu nhưng lại hấp dẫn như: Phòng khám đa khoa, siêu thị của bé, Tổ ấm gia đình, kĩ sư tương lai, em thích làm ca sĩ Từng thời gian hoặc sau mỗi chủ điểm tôi đã thay đổi cách bố trí, trang trí và hoạt động ở các góc để tạo cảm giác mới lạ, hấp dẫn trẻ. *Xác định các góc và những tác động của cô để rèn kĩ năng giao tiếp cho trẻ. Tại các góc chơi tôi chọn những góc để rèn kĩ năng giao tiếp tốt nhất cho trẻ đó là: góc sách truyện, góc xây dựng, góc nghệ thuật, góc phân vai, góc 8 khám phá. Tuy nhiên tôi không thể sử dụng tối đa các góc này mà tôi xác định góc phân vai, góc nghệ thuật và góc xây dựng là các góc trẻ sử dụng kỹ năng giao tiếp nhiều nhất nên tôi đặc biệt quan tâm và thực hiện việc rèn kỹ năng giao tiếp. Cụ thể: - Qua góc chơi xây dựng chủ đề “Một số nghề- Ngày 20/11”. Quá trình trẻ thảo luận cùng bạn để phân các vai và nhiệm vụ của các vai đã giúp trẻ phát triển ngôn ngữ giao tiếp với bạn và cô đặt các câu hỏi các kỹ sư sẽ xây những gì trong doanh trại của các chú bộ đội? : - Góc nghệ thuật: Trẻ đóng kịch “ Ba cô gái”: khi đó trẻ được tự mình làm các diễn viên hóa thân thành bà mẹ, cô cả, cô hai, cô út và sóc nâu Trẻ sẽ hiểu được tình cảm mẹ con, các câu nói của từng người con đối với mẹ để qua đó biết được ai mới là người con hiếu thảo với mẹ. Qua hoạt động đóng kịch trẻ không những được làm những nhân vật mà trẻ yêu thích còn học hỏi và tích lũy. Trẻ còn tự phân các các nhóm thực hiện khác nhau như có nhóm thì hát múa, đọc thơ, nhóm thì vẽ tranh, tô màu tranh về các chủ đề rất sôi nổi và thu hút những bạn ở nhóm khác đến giao lưu tạo không khí vui tươi của hoạt động và phát huy được hết khả năng của cả trẻ nam và trẻ nữ. 9 Hình ảnh: Phát triển kĩ năng giao tiếp qua các góc hoạt động Tuy nhiên, cô giáo cũng có thể trở thành một người bạn cùng chơi tuyệt vời của trẻ. Tôi luôn dành những khoảng thời gian để chơi đùa, hướng dẫn trẻ và đây cũng là cơ hội để hiểu tính cách cá nhân của trẻ qua đó giúp cho việc định hướng những kỹ năng giao tiếp của trẻ. Tôi không hề áp đặt hay yêu cầu quá cao so với khả năng của trẻ mà tôi luôn luôn tôn trọng quyền tự do trong khi chơi, tự do sáng tạo của trẻ. Tôi biết nếu đặt quá nhiều kỳ vọng hay yêu cầu đối với trẻ, thì trẻ sẽ cảm thấy áp lực và dễ trở nên tự ti. Thay vào đó tôi luôn lắng nghe, quan sát và cố gắng hiểu trẻ để trẻ có điều kiện tốt nhất phát triển. Kết quả: Qua thực tế tôi thấy việc tạo ra một không khí thoải mái, đầm ấm và việc đưa các trò chơi, tạo các tình huống, trong việc giao tiếp với trẻ là cách giúp trẻ giao tiếp tích cực nhất. Sau khi thực hiện biện pháp này tôi thấy lớp tôi không còn tình trạng đồ chơi của ai người đó chơi, góc nào chỉ chơi ở góc đó nữa, mà trẻ đã biết liên kết các vai chơi theo nhóm chơi, góc chơi với nhau thành thạo theo chủ đề chơi. Các thói quen văn minh và kĩ năng trao đổi, ngôn ngữ của trẻ được phát triển thông qua hoạt động vui chơi theo góc Biện pháp 4: Rèn trẻ phát triển kĩ năng giao tiếp ở mọi lúc mọi nơi. Giao tiếp không chỉ xuất hiện trong một địa điểm hay một trường hợp nhất định mà giao tiếp được hình thành ở mọi lúc, mọi nơi. Cũng chính vì vậy để thúc đẩy kỹ năng giao tiếp cho trẻ tôi không chỉ hướng dẫn cho trẻ trong một hoạt động nhất định hay chỉ khi ở lớp, ở trường mà môi trường sống của trẻ cũng ảnh hưởng lớn đến khả năng phát triển giao tiếp cho trẻ. Nếu chỉ rèn trẻ khi trong tiết học hay khi chơi hoạt động góc thì khả năng giao tiếp của trẻ sẽ không có sự liền mạch thống nhất. *Hoạt động ngoài trời 10 + Khi trẻ chơi hoạt động ngoài trời trong lớp dưới sự hướng dẫn nhắc nhở động viên của cô trẻ chơi đoàn kết không tranh dành đồ chơi với bạn. Nhưng nếu khi trẻ chơi hoạt động ngoài trời giáo viên không nhắc trẻ quy định khi chơi thì trẻ sẽ tranh dành xô đẩy bạn để dành quyền chơi trước. Có một đồ chơi không có ai chơi nhưng nếu chỉ cần có một người chơi thì 6-7 bạn khác cũng xúm vào tranh dành chơi và có những lời nói chưa đúng chuẩn mực, nhiệm vụ của tôi lúc này là phải uốn nắn những lời nói chưa đúng của trẻ và luôn phải quan sát nhắc nhở trẻ để trẻ chơi an toàn và có ứng sử phù hợp khi chơi. * Ví dụ: Hôm nay cô cho trẻ quan sát sân trường trẻ sẽ hỏi: Cô ơi đây là cây gì? Khi được cô trả lời, đây là cây sấu, lá có dạng dài nhỏ, quả sấu có mầu xanh và ăn có vị chua dùng để nấu canh chua hoặc ngâm đường...Hôm sau khi trẻ dạo chơi cùng bạn trẻ sẽ tự giới thiệu hay nói chuyện với bạn về cây sấu đó. Từ đấy ta có thể nhận thấy rằng việc học giao tiếp là quá trình gồm nghe, nói, đọc, viết gắn liền một thể không tách rời nhau, do đó tổ chức cho trẻ được phát triển ngôn ngữ và giao tiếp mạnh dạn vì đối với trẻ khi trẻ được cô, cha, mẹ cho đi chơi, đi dạo, chơi trò chơi. Trẻ sẽ lĩnh hội được ý nghĩa và kỹ năng phát triển giao tiếp nhanh. Ví dụ: Cô giáo hướng dẫn trẻ quan sát cây bàng Trẻ giới thiệu với các bạn về cây bàng theo ý hiểu của trẻ Hình ảnh: Trẻ tham gia dạo chơi ngoài trời + Phát triển kỹ năng giao tiếp qua hoạt động quan sát xem tranh ảnh, đồ dùng trực quan. Với trẻ mầm non đồ dùng trực quan là rất cần thiết vì trẻ được sờ, nắm, quan sát nội dung bức tranh hoặc đồ vật thông qua đó trẻ tiếp thu 11 thêm các từ mới và sử dụng thêm từ cũ mà mình đã biết, hàng tuần giáo viên cho trẻ đi thăm quan khung cảnh thật xung quanh trường, chọn 1 phong cảnh phù hợp gợi ý cho trẻ quan sát và nói cảm nhận của mình về những gì trẻ nghe, nhìn và cảm nhận thấy. Mỗi buổi đi tham quan là một buổi giúp cho trẻ phát huy những ngôn ngữ mới. Khi xem tranh trẻ chỉ thích quan sát những gì nổi trội vậy nhiệm vụ của tôi là hướng dẫn trẻ quan sát theo trình tự toàn thể bức tranh này miêu tả về cái gì? trong tranh có ai? đang làm gì? Và từng chi tiết để trẻ được phát triển tư duy, ngôn ngữ, trao đổi cùng bạn bè, cũng có thể cô gợi ý cho trẻ trò chuyện, quan sát xong tranh * Trong giờ ăn Trước giờ ăn tôi hay cho trẻ đọc thơ, hát các bài có liên quan đến bữa ăn, mời trẻ ăn để trẻ có thói quen mời trước khi ăn, cho trẻ kể các món ăn mà trẻ được ăn trong bữa ăn. cũng tạo cho trẻ hững thú ăn. Trong khi ăn dùng những lời động viên để trẻ ăn hết xuất. Từ những hành động, lời nói tuy nhỏ nhưng cúng tạo cho trẻ thói quen giao tiếp văn minh trong bữa ăn. Ví dụ: Khi ăn trẻ nó chuyện tục, bậy trong bữa ăn tôi nhẹ nhàng động nhắc trẻ ăn và cho cá nhân trẻ đó biết điều đó là không nên nói trong bữaăn, tìm cơ hội sau bữa ăn phân tích cho trẻ hiểu. Trong giờ ăn trẻ lớp tôi có tình trạng tranh dành thìa bát có lúc vì tranh giành bát mà làm đổ cơm. Lúc đó tôi phải không được nóng giận mà tôi nhẹ nhàng giải thích cho trẻ hiểu hành động đó là chưa ngoan khi tranh giành cơm đổ ra sẽ làm bẩn quần áo, lãng phí đồ ăn, nếu thức ăn còn nóng có thể sẽ gây bỏng. Qua 1 năm học tôi thực hiện thì giờ trẻ lớp tôi đã không còn hiện tượng tranh giành bát, thìa trong khi ăn và có kỹ năng ứng sử, giao tiếp văn minh trong giờ ăn. *Trong giờ ngủ trưa + Trong giờ ngủ của trẻ vào những lúc này hơn ai hết trẻ rất cần sự động viên. Khích lệ vỗ về của cô và trẻ cũng rất dễ dàng trao đổi với cô những điều muốn nói như “Cô ơi cô ru con ngủ nhé, cô ơi con nhớ mẹ lắm”. Là một giáo viên mầm non tôi luôn luôn gặp phải nhiều tình huống, trước tiên lúc đó tôi phải vỗ về và động viên, nhắc nhở trẻ và giải thích cho trẻ hiểu bố mẹ phải đi làm, hàng ngày con đi học chiều bố mẹ về sẽ đón con, ngày mai con không được nhõng nhẽo với bố mẹ đòi về buổi trưa nữa. Sau đó chiều về tôi gặp bố mẹ trao đổi về tình hình của con và nhắc nhở nhẹ nhàng phụ huynh không nên hứa hẹn với con nhưng điều mà mình không thực hiện được, điều đó cũng làm cho trẻ ngoan hơn, tự tin hơn khi tham gia các hoạt động cùng cô giáo. + Trong hoạt động hàng ngày của trẻ không bao giờ thiếu giờ hoạt động tự do và hoạt động vệ sinh cá nhân, những lúc này là lúc trẻ được tự do trò 12 chuyện giao tiếp với nhau. Tôi sẽ là người lắng nghe và tạo tình huống để cho trẻ được thoải mái giao tiếp nhiều hơn, luôn khuyến khích động viên trẻ để trẻ nói ra những ngôn ngữ mạch lạc. Hình ảnh: Trẻ ngủ với những lời động viên, lời hát du nhẹ nhàng *Kết quả: Thông qua các hoạt động hàng ngày của trẻ tôi thường xuyên quan tâm để ý giúp cho trẻ được phát biểu những gì mà trẻ biết và biết đề nghị những gì trẻ muốn. Từ đó giúp cho trẻ mạnh dạn tự tin hơn khi giao tiếp với mọi người xung quanh. Từ trẻ không nói chuyện tâm sự với tôi, luôn dùng hành động khóc để biểu thị cảm xúc, khi không đồng ý trẻ đã tâm sự với tôi về sở thích cũng như nhu cầu của bản thân trẻ. Sau khi thực hiện biện pháp này tôi thấy trẻ đã ăn hết xuất có hành vi và kỹ năng giao tiếp đúng yêu cầu và đạt theo độ tuổi, vui vẻ khi đến trường. Biện pháp 5: Biện pháp phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ thông qua tuyên truyền cho phụ huynh. Giúp phụ huynh biết rằng trẻ nhỏ thì phạm vi giao tiếp còn rất hạn chế cũng như đơn giản, thông thường trẻ chỉ tiếp xúc với những người trong gia đình và nếu có với người lạ thì cũng có bố mẹ ở bên cạnh để "đỡ đòn" vì thế cũng không nhất thiết phải dạy trẻ quá nhiều thứ. Nhưng một trong những điều mà trẻ cần phải học và nhận biết một cách đầy đủ, đó là tính tôn trọng. Điều này được thể hiện qua các khía cạnh sau: + Biết nói lời xin lỗi, biết nói cảm ơn. + Không cướp lời, nói leo khi người khác nói. + Không tự tiện lấy và sử dụng đồ dùng của người khác. Cả ba khía cạnh này sẽ được trẻ học rất tốt qua sự làm gương của bố mẹ, khi chúng ta biết cám ơn và xin lỗi những người mà chúng ta tiếp xúc trên đường phố, hay trong sự va quẹt khi giao thông, cũng như ở ngay trong gia đình khi chính bố mẹ không tự tiện lục cặp của trẻ, không tự tiện lấy những món đồ của trẻ hay của người khác để sử dụng cho riêng mình thì chắc chắn việc chúng ta dạy các em những ngôn ngữ giao tiếp này rất dễ dàng. - Tuyên truyền với phụ huynh về sự phát triển tâm sinh lý lứa tuổi của trẻ, nội quy nề nếp lớp học. Trao đổi thực tế nhận thức và khả năng của từng 13 cháu cho phụ huynh thấy khả năng của con mình và từ đó tìm ra giải pháp tốt nhất để hình thành cho trẻ một thói quen một nề nếp tốt. Có những hoạt động dạy trẻ cần phải phụ huynh đóng giúp nhân vật hoặc có những hoạt động giáo dục trẻ cô giáo mời phụ huynh có nhiều hiểu biết về tâm, sinh lí của trẻ và hiểu biết về tình hình xã hội để trò chuyện với trẻ, để cho trẻ được tiếp xúc với nhiều người trẻ sẽ mạnh dạn giao tiếp. Muốn làm được điều đó tôi đã phải lên kế hoạch như sau: - Tổ chức họp phụ huynh đầu năm tôi đã thông báo đặc điểm tình hình trường lớp, nội dung dạy trẻ mẫu giáo lớn, nhấn mạnh điểm khó khăn của lớp để kịp thời cùng phụ huynh uốn nắn trẻ, cho phụ huynh xem đoạn videoclip trẻ vui chơi giao tiếp với các bạn trong lớp. Hình ảnh: Tuyên truyền phụ huynh bằng các hình thức khác nhau 14 - Họp sơ kết học kỳ 1 tôi đã thông báo tình hình học tập của trẻ những điều đạt được và chưa được của trẻ trong các chủ điểm, hoạt động trong học kỳ 1 và phương hướng, nội dung dạy trẻ trong học kỳ 2 để phụ huynh nắm bắt kịp thời cùng giáo viên và nhà trường chăm sóc dạy dỗ các cháu tốt hơn. - Thực hiện tốt công tác tuyên truyền ở nhóm lớp qua bảng tuyên truyền cha mẹ cần biết để thông báo kịp thời tình hình sức khoẻ của trẻ, bài học, sản phẩm của trẻ để phụ huynh nắm bắt kịp thời kiến thức nuôi dạy con một cách chính xác và gần nhất. - Thực hiện tốt việc tuyên truyền trao đổi với phụ huynh thông qua Sổ liên lạc. Qua đó phụ huynh sẽ nắm vững được trình độ tiếp thu khả năng nắm bắt của trẻ cũng như sức khỏe của trẻ để phối kết hợp cùng giáo viên rèn luyện kỹ năng giao tiếp cho trẻ. - Với những trẻ mạnh dạn, tự tin khi giao tiếp tôi cần trao đổi với phụ huynh cho trẻ ngày càng phát huy ngôn ngữ để trẻ giao tiếp với mọi người tốt hơn. - Với trẻ chậm nhút nhát tôi kết hợp với phụ huynh động viên giúp trẻ mạnh dạn tự tin hơn. - Tôi luôn quan tâm tới trẻ, tìm ra những điểm mạnh cũng như những điểm yếu của trẻ để kịp thời trao đổi với phụ huynh. - Luôn giữ thông tin với phụ huynh qua mạng internet, nhóm zalo của lớp, thông báo kịp thời tới các phụ huynh về vấn đề cần thiết của con em mình cungx như việc chung của lớp. Kết quả: Bản thân tôi đã tự tin khi giao tiếp với phụ huynh và có những hình thức trao đổi để trẻ phát triển. Phụ huynh rất nhiệt tình hỗ trợ, kết hợp cùng tôi trong việc rèn kỹ năng giao tiếp cho trẻ. và có những kinh nghiệm mới để dạy trẻ, tạo được không khí hào hứng, sôi nổi, lôi cuốn trẻ tham gia tích cực trong các hoạt động, nâng cao hơn nữa khả năng giao tiếp của trẻ và chương trình chăm sóc trẻ theo chương trình giáo dục mầm non mới phù hợp. Biện pháp 6: Biện pháp phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ phù hợp với đặc điểm của từng cá nhân trẻ và phù hợp với bối cảnh địa phương. Việt Nam có một nền văn hóa phong phú và đa dạng trên tất cả các khía cạnh. Tại lớp tôi phụ trách với số trẻ không quá đông nhưng số trẻ đó lại sinh sống trên 2 địa bàn thôn xóm khác nhau. Tuy cùng trên địa bàn xã nhưng cũng có những nét văn hóa khác nhau đôi chút như: Cách xưng hô, cách chăm sóc con cái, ngôn ngữ giáo tiếp Để việc phát triển giao tiếp cho trẻ phù hợp với hoàn cảnh địa phương bản thân đã thực hiện như sau *Tìm hiểu văn hóa địa phương -Trò chuyện cùng các con để biết ngôn ngữ giao tiếp sẵn có từ gia đình, người thân. 15 - Trò chuyện cùng phụ huynh biết sâu hơn văn hóa thôn xóm đó như cách sung hô, nếp sống *Tìm và phát hiện ra những lỗi trong giao tiếp của trẻ. Trong quá trình giao tiếp với trẻ hang ngày tôi sẽ phát hiện ra các lỗi trong giao tiếp của trẻ. Ví dụ: Cháu Ngân Khánh ngọng dấu ngã, tất cả các cháu trên địa bàn thôn Thạch Xá ngọng chữ n, l, cháu Tú giao tiếp trống không, cháu Huế sử dụng câu từ rút gọn quá, các cháu ở thôn Bùi bến hay dùng cách nói quá trong khi giao tiếp. *Cách thực hiện Sau khi tìm ra các lỗi trong quá trình giao tiếp tôi đưa ra những biện pháp cụ thể: uốn nắn cho trẻ trong các hoạt động trong ngày, tuyên truyền để các bậc phụ huynh biết phối hợp cùng cô giáo Ví dụ: Cháu Đông ngôn ngữ hạn chế nên khả năng giao tiếp còn thụ động nên việc rèn kỹ năng giao tiếp cho cháu gặp nhiều khó khăn vì bố mẹ cháu đi làm ăn xa cháu ở nhà với bà. Khả năng giao tiếp của cháu kém là do thiếu hụt khả năng xử lý thông tin và cháu cần được gia đình và nhà trường chăm sóc tạo điều kiện để trẻ phát triển, việc kết hợp với phụ huynh còn gặp nhiều khó khăn. Với trẻ nói ngọng tôi chú ý rèn sửa sai cho trẻ, điều này đòi hỏi tôi phải có sự kiên trì đầu tư thời gian. Với những trẻ nói trống không cô thêm từ vào những gì trẻ nói và cho trẻ nhắc lại cả câu. Ví dụ: Trẻ nói “con uống nước”, tôi có thể nói “ Cô ơi con xin đi uống nước ạ” hoặc “con muốn uống nước cô ạ” Kết quả: Sau thời gian thực hiện biện pháp này trẻ ở lớp tôi đã giao tiếp tự tin hơn với cô giáo, các bạn và người thân trong gia đình. Đầu năm các cháu vẫn sử dụng cách nói của trẻ nhà trẻ và mẫu giáo bé để giao tiếp với người lớn và bạn bè, nhưng sau khi tôi thực hiện biện pháp rèn kỹ năng giao tiếp các cháu lớp tôi đã biết cách giao tiếp và dùng một số từ đơn giản để giao tiếp với từng đối tượng và trong từng hoàn cách khác nhau. Đầu năm học còn một số cháu không giao tiếp với các bạn, không muốn đi học, hay khóc một cách vô cớ nhưng đến giữa năm trẻ đã mạnh dạn tự tin hơn trong giao tiếp. 2.2.2. Kết quả Sau một thời gian thực hiện các biện pháp trên tại lớp tôi đã nhận được kết quả như sau: * Đối với bản thân: Bản thân tôi đã nhận thức sâu sắc được tầm quan trọng của việc phát triển kĩ năng giao tiếp cho trẻ trong trường mầm non. Qua việc sử dụng các biện pháp trên tôi đã tạo được môi trường lớp học phong phú, không khí lớp học luôn sôi nổi, và hơn hết là tạo cho trẻ những kĩ năng sống cơ bản. Khi trẻ có thói quen và các kĩ năng giao tiếp, trẻ sẽ cởi mở hơn, hòa đồng hơn trong mọi 16 hoạt động, tránh được các chứng tự kỉ, thụ động. Cô giáo sẽ đỡ vất vả hơn, tiết kiệm được thời gian hơn trong quá trình truyền tải kiến thức cho trẻ. Thêm vào đó, kĩ năng tổ chức các hoạt động tập thể tốt hơn, có khả năng tổ chức hoạt động một cách tự tin, linh hoạt. Được phụ huynh tin tưởng và quan tâm hơn đến hoạt động của lớp. *Đối với phụ huynh Các bậc phụ huynh đã dần sắp xếp thời gian trò chuyện cùng con hơn, lỗi phát âm l, n của các bậc phụ huynh thuyên giảm hơn. Phối hợp cùng cô giáo hơn trong việc chăm sóc giáo dục trẻ. *Kết quả đạt được trên trẻ như sau: - Số trẻ hứng thú với các hoạt động có yêu cầu giao tiếp chiếm đến 90%, tiết học nhờ đó mà sôi nổi hơn. - Tỉ lệ trẻ đạt được các kĩ năng giao tiếp ngày càng cao trẻ, vốn từ của trẻ ngày càng phong phú. - Hầu hết các trẻ có kĩ năng hoạt động tập thể tốt, không còn tình trạng trẻ trốn tránh tham gia các hoạt động cô đưa ra. Một số kĩ năng cơ bản về giao tiếp như: Lắng nghe,chia sẻ, trao đổi trẻ đều thực hiện rất tốt. Bảng so sánh kết quả trước và sau khi áp dụng các biện pháp phát triển giao tiếp cho trẻ: Kỹ năng Kỹ năng trao Các thói quen Kỹ năng chia sẻ nghe đổi văn minh Nhóm Nhóm Nhóm Nhóm Nhóm Nhóm Nhóm Nhóm đối thực đối thực đối thực đối thực chứng nghiệm chứng nghiệm chứng nghiệm chứng nghiệm T: 3 = T: 10 = T: 2 = T: 8= T: 3 = T: 7= T: 5 = T: 9 = 13% 43,5% 16,7 % 34,4% 13% 30,5% 21,7% 39% K: 5 = K: 8 = K: 8 = K:6= K: 6 = K: 12 = K: 7 = K: 7 = 21,7% 34,8% 34,8% 26% 26,1% 52% 30,5% 30,5% TB: 7 TB: 5 = TB: 5 = TB: 9 = TB: 8 = TB: 4 = TB: 6 = TB: 7 = = 21,7% 21,7% 38,6% 34,8% 17,5% 26,1% 30,5% 30,5% Y: 8 = Y: 0 Y: 8 = Y: 0 Y: 6 = Y: 0 TB: 6 = Y: 0 34,8% 34,8% 26 ,1% 26,1% Trên đây là một số biện pháp tôi đã áp dụng khi dạy trẻ phát triển kỹ năng giao tiếp. Những kinh nghiệm này rất dễ thực hiện và đạt hiệu quả cao. 17 Bên cạnh việc đạt được mục tiêu giáo dục đề ra tôi còn tích luỹ thêm được nhiều kỹ năng mới, nhận được nhiều niềm vui và tình cảm yêu quí tin tưởng từ phía phụ huynh, học sinh, chị em đồng nghiệp. Sáng kiến này bước đầu đã được phổ biến ở một số lớp mẫu giáo lớn trong trường. Sáng kiến này tôi nghiên cứu và áp dụng trong lớp tôi, được đồng nghiệp tham khảo và rút kinh nghiệm. Qua quá trình nghiên cứu và ứng dụng đề tài vào thực tế lớp học và kết quả thu được tôi thấy giải pháp này có thể áp dụng rộng rãi cho các lớp mẫu giáo khác trong toàn trường và có thể vận dụng vào các trường mầm non trong huyện. 2.3 Kinh phí thực hiện theo từng nội dung, nhiệm vụ Kinh phí thực hiện cho từng nội dung không tốn kém nhiều vì sáng kiến được nghiên cứu từ thực tế các hoạt động tại trường. Sáng kiến thuận tiện giảng dạy, chủ yếu là qua các hoạt động hàng ngày, đồ dùng đồ chơi chủ yếu tận dụng nguyên vận liệu sẵn có, chai lọ nhựa đã qua sử dụng nên không tốn nhiều kinh phí cho việc đầu tư đồ dùng trực quan cũng như các học liệu khác. 3. Phần kết luận: 3.1. Ý nghĩa, khả năng ứng dụng và nhân rộng *Ý nghĩa. - Việc phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5- 6 tuổi là rất cần thiết và có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong giáo dục mầm non hiện nay. Bởi đây là một vấn đề đã và đang được xã hội hết sức quan tâm. Từ những biện pháp tôi tìm tòi nghiên cứu và thực hiện tôi cảm thấy ở trẻ có sự tiến bộ lên rõ rệt, đó là điều làm tôi phấn khởi, giúp tôi càng yêu nghề hơn, giúp tôi càng có nghị lực trong công tác. Trẻ mạnh dạn, tự tin hơn trong giao tiếp. Những thói quen vệ sinh, những hành vi giao tiếp văn minh dần được hình thành ở trẻ. - Cần phải tổ chức tốt các hoạt động trên lớp vì qua đó trẻ học được rất nhiều điều, trẻ được phản ánh về thế giới xung quanh, qua đó kích thích sự giao tiếp. - Việc phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ là cả quá trình liên tục và có hệ thống đòi hỏi giáo viên kiên trì, bền bỉ khắc phục khó khăn để tìm ra phương tiện, điều kiện cần thiết cho sự phát triển toàn diện của trẻ, mỗi giáo viên không chỉ rèn tốt trong các giờ học mà còn rèn luyện bản thân để có trình độ chuyên môn dạy tốt mang tri thức thắp sáng thế hệ măng non. Các biện pháp trong sáng kiến được tôi áp dụng trên trẻ lớp tôi với những cơ sở vật chất có sẵn của lớp học. Để nhân rộng sáng kiến: - Cần phải tổ chức tốt các hoạt động trên lớp vì qua đó trẻ học được rất nhiều điều, trẻ được phản ánh về thế giới xung quanh, qua đó kích thích sự giao tiếp. 18 - Cô đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình trẻ giao tiếp: là người trung gian kích thích trẻ giao tiếp và cùng trẻ nhập vào cuộc chơi, qua đó uốn nắn kịp thời kỹ năng giao tiếp của trẻ. - Cô là người đặt tình huống và giao nhiệm vụ để trẻ thể hiện. - Việc trang trí lớp, đầu tư các trang thiết bị, phương tiện, vật liệu, đồ dùng đồ chơi sáng tạo tại các góc đóng vai trò không nhỏ trong việc rèn kỹ năng giao tiếp cho trẻ. - Các cấp lãnh đạo quan tâm đầu tư thêm nguồn kinh phí để tu sửa, xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị phục vụ cho dạy và học, - Đối với giáo viên cần phải học hỏi trau rồi các kiến thức về tâm sinh lí của trẻ theo từng độ tuổi qua đó tìm ra các biện pháp phát triển kỹ năng giao tiếp phù hợp với cá nhân trẻ. - Việc rèn luyện kỹ năng giao tiếp cho trẻ mầm non, đặc biệt là trẻ mẫu giáo lớn góp phần quan trọng vào việc hình thành nhân cách cho trẻ, là sự chuẩn bị cần thiết cho trẻ vào học trường tiểu học *Khả năng ứng dụng và nhân rộng Nội dung đề tài viết trên tinh thần tập hợp những kinh nghiệm đúc kết được của bản thân, qua nghiên cứu tài liệu, qua sự đóng góp của đồng nghiệp, chủ yếu là những giải pháp trong việc phát triển kỹ năng giao tiếp của trẻ đã đạt hiệu quả cao. Đề tài này có thể áp dụng rộng rãi, có hiệu quả đối với các lớp 5-6 tuổi trong trường và có thể áp dụng rộng rãi đối với các lớp trong trường Mầm non trên địa bàn huyện Yên Dũng - tỉnh Bắc Giang nói riêng và có thể áp dụng rộng rãi đối với các trường mầm non trong toàn tỉnh và trên toàn quốc nói chung. 3.2 Hiệu quả kinh tế - xã hội sáng kiến mang lại Sáng kiến không tốn kém nhiều lên mang lại hiệu quả kinh tế rất cao. Sáng kiến đem lại hiệu quả trong công tác quản lý, áp dụng trong thực tế đem lại hiệu quả cao nhất, với thời gian và sức lực được sử dụng ít nhất. * Đi vi tr: Nhng bin pháp trên đã mang li kt qu tt sau thi gian áp dng ti lp Mu giáo 5-6 tui B5, cht lưng ca tr qua các hot đng ca tr đưc nâng cao rõ rt, thông qua bng kho sát ta thy ý thc cũng như s hng thú ca tr đưc nâng cao, có tr gii quyt đưc vn đ v ngng và nói lp, đng thi ngôn ng ca tr phát trin rõ rt. - Trẻ tò mò, phát triển trí tưởng tượng, năng động, mạnh dạn, tự tin, được rèn luyện khả năng sẵn sàng học tập ở trường phổ thông. 19 - Trẻ đi học đều hơn, và ít gặp khó khăn khi đến lớp, có kỹ năng lao động tự phục vụ bản thân. - Trẻ mạnh dạn, tự tin hơn trong quá trình hoạt động. * Đi vi giáo viên: Mang li nhiu k năng và kinh nghim cho bn thân khi thit k, la chn ch đ sát vi đc đim nhn thc ca tr mình trc tip dy. Qua đó hình thành các k năng, tác phong nghip v, sáng to trong các hình thc t chc các hot đng trưng cho tr. - Cô tự tin và linh động hơn trong xây dựng kế hoạch hoạt đông. - Các nội dung, hoạt động của trẻ được lựa chọn sát với thực tế, với trẻ, với địa phương hơn. * Đ vi cha m tr: - Thường xuyên phối kết hợp với Nhà trường trong quá trình chăm sóc giáo dục trẻ. - Tích cc tham gia các hot đng ca hi cha m hc sinh hơn, hot đng do giáo viên, nhà trưng t chc hơn. - Cha m tr s an tâm, tin tưng khi cho con em mình đn trưng, lp mm non, hiu đưc tm quan trng ca nn giáo dc Mm non trong thi đi mi và đc bit s có tm nhìn mi v vai trò và trách nhim đi vi con em mình. 3.3. Kiến nghị, đề xuất * Đối với Lãnh đạo Nhà trường - Quan tâm hơn nữa đối với đội ngũ giáo viên mầm non mới ra trường, còn yếu tay nghề ảnh hưởng đến việc dạy học, chưa yên tâm công tác. - Bổ sung kịp thời trang thiết bị và đồ chơi còn thiếu, nâng cấp kịp thời những phòng học đã xuống cấp. (về những vấn đề liên quan tới đề tài) *Đối với tổ chuyên môn: - Đưa nội dung rèn kĩ năng giao tiếp cho trẻ vào kế hoạch của tổ để sinh hoạt chuyên môn hàng tháng của tổ. - Hàng tháng lên kế hoạch cụ thể phân công nhiệm vụ thay phiên cho giáo viên trong tổ dạy hoạt động giáo dục có lồng ghép rèn kĩ năng giao tiếp cho trẻ. - Tổ trưởng chuyên môn kí duyệt sổ kế hoạch chăm sóc giáo dục hang tuần cho giáo viên chú ý đến nội dung nội dung rèn kĩ năng giao tiếp cho trẻ ở các kế hoạch của giáo viên. *Đối với giáo viên: - Rèn luyện kỹ năng giao tiếp cho chính bản thân mình. 20
File đính kèm:
skkn_mot_so_bien_phap_phat_trien_ky_nang_giao_tiep_cho_tre_l.doc