SKKN Nâng cao chất lượng tổ chức các trò chơi vận động cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi A6 trường mầm non Tân Tiến
Bạn đang xem tài liệu "SKKN Nâng cao chất lượng tổ chức các trò chơi vận động cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi A6 trường mầm non Tân Tiến", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
Tóm tắt nội dung tài liệu: SKKN Nâng cao chất lượng tổ chức các trò chơi vận động cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi A6 trường mầm non Tân Tiến
PHẦN A. ĐẶT VẤN ĐỀ Như chúng ta đã biết, hoạt động vui chơi là hoạt động chủ đạo của trẻ em lứa tuổi mẫu giáo. Trẻ em không chỉ cần được chăm sóc sức khoẻ, được học tập, mà quan trọng nhất trẻ phải được thoả mãn nhu cầu vui chơi. Qua đó, giúp trẻ phát triển toàn diện về các mặt: Đức, trí, thể, mĩ. Tổ chức tốt các trò chơi vận động cũng góp phần vào sự phát triển toàn diện đó. Trò chơi vận động là phương tiện để giáo dục trẻ một cách toàn diện. Khi chơi, trò chơi vận động tác động lên nhiều nhóm cơ, làm tăng cường quá trình trao đổi chất. Bên cạnh đó, trò chơi vận động tác động tích cực đến sự phát triển thể chất trẻ, giúp trẻ có cơ hội tốt nhất để tiếp thu, lĩnh hội những kiến thức về thế giới xung quanh. Tuy nhiên, không phải lúc nào trò chơi vận động cũng được quan tâm tổ chức thực hiện một cách tốt nhất để có thể thỏa mãn nhu cầu học bằng chơi, chơi mà học của trẻ. Trên thực tế, tôi thấy việc tổ chức trò chơi vận động cho trẻ còn nhiều hạn chế. Giáo viên chưa lựa chọn các trò chơi vận động phù hợp, đồ dùng đồ chơi chưa đa dạng, phong phú. Trẻ chưa hứng thú khi tham gia vào trò chơi vận động dẫn đến hiệu quả của các trò chơi vận động chưa cao. Nhận thấy được vai trò, tầm quan trọng của việc tổ chức trò chơi vận động đối với trẻ, trong năm học 2023 - 2024 tôi đã lựa chọn biện pháp “Nâng cao chất lượng tổ chức các trò chơi vận động cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi A6 trường mầm non Tân Tiến” để áp dụng vào lớp mình đang giảng dạy. PHẦN B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 1. Thực trạng công tác tổ chức nội dung/nhiệm vụ mà giáo viên lựa chọn để giải quyết vấn đề 1.1. Ưu điểm: - Trường luôn nhận được sự quan tâm của UBND thành phố Bắc Giang, UBND xã Tân Tiến, Sở GD&ĐT, phòng GD&ĐT, ban đại diện cha mẹ học sinh xây dựng trường khang trang sạch đẹp có đầy đủ các trang thiết bị đồ dùng, đồ 2 chơi theo danh mục. Trường có sân chơi phát triển vận động được trang bị đầy đủ các các thiết bị, bộ đồ dùng đồ chơi phát triển vận động hiện đại. - Trẻ mạnh dạn, tự tin có thể lực và có nhận thức tốt. - Phụ huynh luôn tin tưởng, nhiệt ủng hộ nguyên liệu, ngày công làm đồ dùng, đồ chơi vận động cho trẻ. - Bản thân là 1 giáo viên trẻ tuôn làm tốt công tác tự bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ có lòng yêu nghề mến trẻ, tâm huyết với nghề, sáng tạo trong việc thiết kế trò chơi, làm đồ dùng đồ chơi giúp trẻ hứng thú tham gia các trò chơi vận động. 1.2. Tồn tại, hạn chế và nguyên nhân 1.2.1. Giáo viên - Lựa chọn các trò chơi vận động cho trẻ chơi chưa phù hợp với từng hoạt động do chưa linh hoạt trong việc lựa chọn các trò chơi vận động. - Đồ dùng đồ chơi phục vụ cho các trò chơi vận động ít, chưa phong phú do thời gian của giáo viên làm đồ dùng đồ chơi và nguồn kinh phí hạn chế 1.2.2. Trẻ em - Khả năng ghi nhớ có chủ định của trẻ còn chưa cao do trẻ trong lớp có nhận thức không đồng đều. - Trong lớp còn một số trẻ rụt rè nhút nhát. Do trẻ chưa có kĩ năng chơi các trò chơi vận động, các kĩ năng vận động của trẻ đang củng cố chưa hoàn thiện, trẻ chưa biết phối hợp hành động của mình với hành động của bạn. 1.2.3. Phụ huynh - Một số phụ huynh chưa quan tâm đến việc chơi các trò chơi vận động cùng với con do đa số bố mẹ trẻ làm nông, làm công ty nên chưa chú trọng tới việc cho trẻ chơi trò chơi vận động và không có thời gian chơi với con. 1.2.4. Cơ sở GDMN - Đồ dùng đồ chơi phục vụ trò chơi vận động còn ít. Từ thực trạng trên, tôi khảo sát thực tế đầu năm học để nắm bắt tình hình của trẻ trong lớp tôi cụ thể như sau: * Bảng khảo sát chất lượng của trẻ trước khi thực hiện biện pháp mới: 3 STT Nội dung khảo sát Tổng số Đạt Chưa đạt trẻ Số Tỉ lệ Số Tỉ lệ trẻ % trẻ % 1 Trẻ hứng thú tham gia TCVĐ 30 20 67% 10 33% 2 Trẻ có kỹ năng chơi TCVĐ 30 18 60% 12 40% 3 Kỹ năng phối hợp nhóm trong 30 17 57% 13 43% TCVĐ 2. Biện pháp: “Nâng cao chất lượng tổ chức các trò chơi vận động cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi A6 trường mầm non Tân Tiến”. 2.1. Biện pháp 1: Lập kế hoạch và lựa chọn các trò chơi vận động phù hợp với trẻ theo từng chủ đề. 2.1.1. Nội dung biện pháp - Sưu tầm, lựa chọn các trò chơi mới phù hợp với trẻ 5-6 tuổi từ đó lập kế hoạch phù hợp với từng chủ đề. 2.1.2. Cách thức, quá trình áp dụng biện pháp Khi lựa chọn trò chơi vận động cho trẻ, tôi dựa trên các điều kiện của trường lớp mình giảng dạy, sự hứng thú của trẻ và dựa vào mục đích cần phát triển cho trẻ. Trước khi bắt đầu 1 chủ đề mới tôi thường sưu tầm và lựa chọn những trò chơi phù hợp với trẻ. Ở độ tuổi 5-6 tuổi, trẻ đã đc tiếp xúc với những trò chơi vận động có độ khó hơn, trìu tượng hơn. Tuy nhiên, vào những chủ đề của đầu năm học tôi lựa chọn các trò chơi dễ, cần ít sự phối hợp để trẻ chơi. Từ các chủ đề sau tôi lựa chọn các trò chơi có độ khó tăng dần. Ví dụ: Chủ đề “Trường mầm non” tôi chọn trò chơi: “Nu na nu nống”,“Kéo cưa lừa xẻ”, “Cướp cờ”, “Tìm bạn thân”, “Lộn cầu vồng”, “Chuyền bóng”,... 4 Khi lựa chọn trò chơi, tôi cũng cần lưu ý đến thời gian trong ngày. Vào buổi sáng tôi chọn các trò chơi có vận động tích cực như “Thi xem ai nhanh”. Vào buổi chiều tôi chọn các trò chơi nhẹ nhàng hơn để đảm bảo cho trẻ nghỉ ngơi tích cực như: “Kéo cưa lừa xẻ”. Trẻ chơi trò chơi “Lộn cầu vồng” 2.1.3. Kết quả áp dụng biện pháp: Qua việc áp dụng biện pháp trên tôi đã biết thêm nhiều trò chơi vận động cho trẻ, thuận tiện trong việc lựa chọn trò chơi vào từng hoạt động cho phù hợp với độ tuổi, thời gian trong ngày, thời tiết, địa điểm chơi. - Trẻ được tham gia vào các trò chơi vận động phù hợp, từ đó trẻ hứng thú tham gia chơi, biết cách chơi phối hợp với các bạn trong khi chơi Hình ảnh trẻ thích thú khi chơi trò chơi “Kéo co” 5 2.2. Biện pháp 2: Chuẩn bị tốt các điều kiện trước khi cho trẻ tham gia vào trò chơi vận động. 2.2.1. Nội dung biện pháp - Chuẩn bị về đồ dùng đồ chơi, địa điểm chơi cho trẻ. 2.2.2. Cách thức, quá trình áp dụng biện pháp * Chuẩn bị đồ dùng đồ chơi. Mỗi trò chơi vận động thì có đồ dùng đồ chơi riêng, dựa vào cách chơi, luật chơi và mang tính đặc trưng của từng trò chơi. Khi chuẩn bị đồ dùng đồ chơi cho trẻ tôi cũng cần dựa vào số lượng trẻ tham gia chơi để chuẩn bị đủ số lượng, tránh trường hợp khi trẻ chơi mà thiếu đồ dùng. Ví dụ: Khi tổ chức cho trẻ chơi trò chơi: “Kéo co” đồ dùng cần có là dây thừng. Hay trò chơi “Chuyền bóng” thì đồ dùng không thể thiếu là bóng. Bên cạnh những đồ dùng, đồ chơi có sẵn, tôi đã làm thêm được một số đồ dùng tự tạo khác để phục vụ cho trẻ chơi của trẻ và phù hợp với nội dung chơi như: - Chai, vòng để chơi trò chơi “Ném vòng cổ chai” ở hoạt động góc - Mũ mèo, mũ chuột để phục vụ cho trò chơi “Mèo đuổi chuột” - Hộp bìa các tông phục vụ trò chơi “Chiếc hộp thần kì” Tôi đã sử dụng các nguyên vật liệu phế thải đã qua sử dụng để làm đồ dùng phục vụ cho trò chơi vận động như: Vỏ hộp sữa, bìa các tông, chai nhựa, ống nước hỏng, cốc giấy dùng 1 lần, giấy báo, giấy màu... Các cô giáo làm đồ dùng cho các trò chơi vận động 6 * Chuẩn bị địa điểm chơi. Bên cạnh việc chuẩn bị đồ dùng đồ chơi thì tôi cũng cần chuẩn bị địa điểm cho trẻ chơi. Địa điểm cho trẻ chơi có thể là trong lớp hoặc ngoài sân tùy vào từng hoạt động. Trước khi tổ chức trò chơi tôi đã quét dọn thu nhặt những vật gây nguy hiểm cho trẻ, sau đó kẻ, vẽ, đánh dấu các quy ước cần thiết sắp xếp dụng cụ hợp lý để đảm bảo an toàn cho buổi chơi. 2.2.3. Kết quả áp dụng biện pháp: - Việc chuẩn bị tốt các đồ dùng đồ chơi và địa điểm chơi đã giúp cho buổi chơi đạt hiệu quả tốt nhất. Trẻ hứng thú, say mê khi tham gia vào trò chơi hơn. - Qua việc làm đồ dùng đồ chơi này tôi đã biết tận dụng các nguyên vật liệu có sẵn, đã qua sử dụng để làm đồ dùng đồ chơi phục vụ cho trẻ. Từ đó vừa tiết kiệm chi phí vừa giáo dục trẻ bảo vệ môi trường. Đồ dùng cho trò chơi vận động 7 2.3. Biện pháp 3: Tổ chức các trò chơi vận động phù hợp với các hoạt động trong ngày 2.3.1 Nội dung biện pháp - Tổ chức các trò chơi vận động trong các hoạt động: Đón - trả trẻ, hoạt động học, hoạt động ngoài trời, hoạt động góc, hoạt động chiều. 2.3.2: Cách thức, quá trình áp dụng biện pháp Từ những trò chơi tôi chọn theo chủ đề, tôi đã tổ chức trò chơi vận động vào các hoạt động trong ngày cho phù hợp. * Hoạt động đón - trả trẻ: Tôi tổ chức những trò chơi vận động nhẹ nhàng để cho trẻ chơi theo các nhóm nhỏ tạo không khí vui tươi, thoải mái cho trẻ trước khi bắt đầu một ngày mới, hay khi chờ bố mẹ đến đón. Ví dụ: Trò chơi “Chi chi chành chành”, “Lộn cầu vồng”. Trẻ chơi “Chi chi chành chành” vào hoạt động đón trẻ * Hoạt động học: - Hoạt động phát triển thể chất: Những trò chơi vận động được tôi đưa vào 8 tiết phát triển thể chất là những trò chơi tương ứng với nhóm vận động cơ bản để rèn luyện kĩ năng vận động cho trẻ. Ví dụ trò chơi “Ném qua dây” rèn luyện kĩ năng ném xa bằng 1 tay. Việc lựa chọn trò chơi vận động cũng cần phải dựa trên vận động cơ bản. Nếu vận động cơ bản là vận động phát triển cơ tay thì trò chơi vận động nên thiên về phát triển cơ chân để giúp trẻ phát triển một cách hài hòa, toàn diện. Ví dụ: + Với hoạt động “Đi nối bàn chân tiến lùi” tôi tổ chức cho trẻ chơi trò chơi vận động “Chuyền bóng” + Với hoạt động “Tung bắt bóng lên cao và bắt bóng bằng 2 tay” tôi chọn trò chơi vận động là “Cướp cờ”. - Các hoạt động: Làm quen với toán, âm nhạc, khám phá tôi cũng căn cứ vào đặc trưng của từng hoạt động để tổ chức những trò chơi vận động quen thuộc để giúp trẻ ôn những kiến thức vừa được học thông qua các trò chơi vận động. Qua đó trẻ được rèn luyện các kĩ năng vận động của cơ thể, biết phối hợp với bạn khi chơi. Trẻ chơi trò chơi “Thi ai nhanh” 9 - Với hoạt động văn học: Tùy vào từng câu chuyện, bài thơ mà tôi tổ chức các trò chơi vận động nhẹ nhàng, đan xen vào giờ học để trẻ không nhàm chán hay mệt mỏi khi ngồi nghe cô kể chuyện, đọc thơ. Ví dụ với hoạt động kể chuyện “Nhổ củ cải”, sau khi đàm thoại cùng cô tôi cho trẻ chơi trò chơi “Nhổ củ cải” kết hợp với lời ca của câu chuyện, trẻ có 1 tinh thần vui tươi thoải mái để tiếp tục hoạt động. * Hoạt động ngoài trời: Không gian chơi ngoài trời rộng rãi phù hợp với các trò chơi vận động tập thể nên tôi thường cho trẻ chơi những trò chơi cả lớp có thể tham gia cùng nhau: “Về đúng bến”, “Mèo đuổi chuột”, “Cáo ơi ngủ à”, “Đua ngựa”, “Trời nắng trời mưa” Khi tổ chức trò chơi tôi cũng lưu ý đến thời tiết, nếu những ngày trời quá lạnh trẻ phải mặc nhiều quần áo, tôi sẽ không cho trẻ chơi các trò chơi có vận động khó. Vào những ngày nắng nóng, tôi cho trẻ chơi các trò chơi có vận động nhẹ nhàng không chạy nhảy quá nhiều gây mệt mỏi cho trẻ. Trẻ chơi trò chơi “Mèo đuổi chuột” * Hoạt động góc: Tôi thường tổ chức cho trẻ chơi 1 trò chơi vận động nhằm tạo sự hứng thú cho trẻ. Ví dụ như ở chủ đề “Thực vật” tôi cho trẻ chơi 10 trò chơi: “Gieo hạt”, “Gà trong vườn rau”. Còn ở góc vận động, tôi bố trí ở hành lang lớp học, chuẩn bị các đồ dùng đồ chơi theo từng tuần, theo chủ đề để cho trẻ chơi. Ví dụ như trò chơi “Ném vòng cổ chai”, “Cắp cua bỏ giỏ”, “Ném trúng đích” * Hoạt động buổi chiều: Trong tuần tôi thường dành riêng một buổi chiều thứ 6 để tổ chức cho trẻ tham gia vào các trò chơi vận động mới. Để trò chơi đem lại hiệu quả, tôi đã hướng dẫn trẻ chơi như sau. - Giới thiệu trò chơi: Khi giới thiệu trò chơi, tôi sử dụng ngữ điệu giọng nói lôi cuốn trẻ, đồng thời sử dụng ngôn ngữ cơ thể biểu đạt nhằm thu hút trẻ tham gia vào trò chơi. Nói về chim, gà, thỏ thì giọng nhẹ nhàng còn khi nói về cáo, sói thì giọng to, trầm hơn. Từ đó gợi cho trẻ hình tưởng về nhân vật mà trẻ sẽ bắt chước trong khi chơi, giúp trẻ tưởng tượng ra cách chơi, nhập vai chơi và thể hiện được vận động của các nhân vật này diễn cảm hơn. - Giới thiệu cách chơi, luật chơi: Để tổ chức trò chơi vận động cho trẻ thì giáo viên cần phải hướng dẫn trẻ hiểu cách chơi, luật chơi. Khi trẻ hiểu cách chơi và luật chơi trẻ mới cảm thấy tự tin và hứng thú tham gia vào trò chơi. Đối với những trò chơi mới tôi sẽ giới thiệu và giải thích cách chơi luật chơi ngắn gọn rõ ràng, đồng thời làm mẫu nhiều lần để trẻ hiểu. Ví dụ: Trò chơi “Nhảy qua suối nhỏ” + Cách chơi: Ở trong rừng có một con suối nhỏ. Bên kia suối có rất nhiều bông hoa đẹp. Các con đi lại nhẹ nhàng rồi nhảy qua suối để hái những bông hoa trong rừng. Khi nghe hiệu lệnh “nước lũ tràn về” thì các con phải nhanh chân nhảy qua suối để về nhà. + Luật chơi: Ai hái được nhiều hoa là người đó thắng cuộc. Ai thua cuộc sẽ phải nhảy lò cò. Trong khi chơi, một số trẻ nhút nhát không tham gia chơi, tôi nắm tay trẻ động viên “Con nhảy qua suối cùng cô nhé. Đừng sợ, suối không sâu đâu”. Qua sự giao tiếp thường xuyên bằng ngôn ngữ trẻ mạnh dạn, tự tin hơn. 11 - Đối với những trò chơi có lời, tôi cho trẻ học thuộc và khi chơi tôi sẽ đọc cùng trẻ. Kết thúc buổi chơi, tôi khen ngợi động viên khích lệ trẻ chơi tốt hơn trong buổi chơi sau. 2.3.3. Kết quả áp dụng biện pháp - 100% trẻ rất hứng thú và yêu thích, các trò chơi vận động - Kĩ năng chơi của trẻ được cải thiện, biết đoàn kết và phối hợp với các bạn trong khi chơi. Giúp trẻ tự tin, linh hoạt hơn trong mọi hoạt động. - Trẻ được mở rộng kiến thức và có thêm nhiều hiểu biết về các trò chơi vận động 2.4. Biện pháp 4: Tuyên truyền, phối kết hợp với phụ huynh trong việc tổ chức các trò chơi vận động cho trẻ 2.4.1. Nội dung biện pháp - Hướng dẫn phụ huynh cách tổ chức trò chơi vận động cho trẻ. - Phụ huynh nắm được cách tổ chức các trò chơi vận động cho trẻ tại nhà, và ủng hộ cô trong việc làm đồ dùng đồ chơi phục vụ các trò chơi vận động của trẻ. 2.4.2. Cách thức, quá trình áp dụng biện pháp Hiện nay, nhiều bậc phụ huynh đã quên mất tầm quan trọng của các trò chơi vận động đối với sự phát triển thể chất của trẻ. Khi trẻ ở nhà, phụ huynh thường cho trẻ tiếp cận với các thiết bị điện tử như: Điện thoại, ti vi, máy tính bảng Từ thực tế nêu trên, tôi đã đẩy mạnh công tác tuyên truyền với phụ huynh về tầm quan trọng của trò chơi vận động đối với sự phát triển toàn diện cho trẻ. Để đạt được kết quả tốt nhất, tôi đã sử dụng các hình thức sau: Qua bảng tuyên truyền, qua các buổi họp phụ huynh học sinh, Zalo của nhóm lớp, thông qua trang web của nhà trường và đặc biệt trong các giờ đón trả trẻ. Ví dụ: Khi tổ chức các trò chơi vận động ở lớp tôi đã chụp ảnh, quay video và gửi vào nhóm zalo của lớp mình. Đồng thời, tôi đã hướng dẫn phụ huynh về luật chơi, cách chơi để phụ huynh tổ chức cho trẻ chơi trò chơi vận động đó tại nhà. Hay như trong giờ đón, trả trẻ tôi đã trao đổi với phụ huynh để sưu tầm, quyên góp các nguyên vật liệu thiên nhiên như lá sỏi, cát, vỏ ngao và các 12 nguyên vật liệu phế thải sẵn ở gia đình như vải vụn, bìa các tông, chai nhựa để làm đồ dùng, đồ chơi cho trẻ. Hình ảnh phụ huynh sưu tầm,quyên góp các nguyên vật liệu. 2.4.3. Kết quả áp dụng biện pháp: Qua áp dụng biện pháp trên tôi thấy các bậc phụ huynh lớp tôi đã nhận thức được tầm quan trọng của trò chơi vận động đối với trẻ. Phụ huynh trong lớp tôi đã dành nhiều thời gian để thường xuyên chơi với con hơn. Từ đó, trẻ không bị ảnh hưởng bởi các thiết bị điện tử như ti vi, điện thoại. Đồng thời, phụ huynh thường xuyên trao đổi mọi thông tin của trẻ với giáo viên, ủng hộ các nguyên vật liệu để các cô làm đồ dùng đồ chơi. Từ đó, tạo nên sự gắn kết giữa gia đình và nhà trường để phụ huynh trẻ yên tâm hơn khi gửi con đến trường. Phụ huynh chơi các trò chơi vận động cùng trẻ tại nhà 13 PHẦN C. MINH CHỨNG VỀ HIỆU QUẢ CỦA BIỆN PHÁP 1. Các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn làm cơ sở cho việc lựa chọn biện pháp - Căn cứ vào chương trình giáo dục mầm non. - Kế hoạch thực hiện chương trình giáo dục mầm non cho trẻ mẫu giáo 5- 6 tuổi. - Tuyển chọn trò chơi, bài hát, thơ ca, truyện, câu đố trẻ 5-6 tuổi tác giả Lê Thu Hương. (NXBGD) 2. Các minh chứng về kết quả đạt được * Về phía giáo viên: Tôi đã biết thêm nhiều trò chơi vận động cho trẻ, lựa chọn trò chơi vào từng hoạt động cho phù hợp với độ tuổi, thời gian trong ngày, thời tiết, địa điểm chơi, biết tận dụng các nguyên vật liệu có sẵn, đã qua sử dụng để làm đồ dùng đồ chơi phục vụ cho trẻ. *Về phía phụ huynh: Phụ huynh lớp tôi đã nhận thức được tầm quan trọng của trò chơi vận động đối với trẻ. Phụ huynh trong lớp tôi đã dành nhiều thời gian để thường xuyên chơi với con hơn. *Về phía trẻ: Sau khi sử dụng các biện pháp mà bản thân tôi đưa ra để áp dụng cho trẻ lớp mình. Tôi cảm thấy rất phù hợp với đối tượng trẻ và thực tiễn của nhà trường. Biện pháp: “Nâng cao chất lượng tổ chức các trò chơi vận động cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi A6 trường mầm non Tân Tiến” cho thấy chất lượng tổ chức trò chơi vận động cho trẻ lớp tôi tăng lên rõ rệt. KẾT QUẢ CÁC NỘI DUNG SAU KHI ÁP DỤNG BIỆN PHÁP (Tổng số trẻ khảo sát: 30 trẻ) STT Kết quả đạt được So Nội dung khảo sát sánh Trước khi Tỉ lệ Sau khi Tỉ lệ (+) áp dụng % áp dụng % (-) 14 1 Trẻ hứng thú tham 20/30 67% 29/30 97% + 30 % gia TCVĐ 2 Trẻ có kỹ năng chơi 18/30 60% 28/30 93% + 33 % TCVĐ 3 Kỹ năng phối hợp 17/30 57% 27/30 90% + 33 % nhóm trong TCVĐ Bảng số liệu trên đã chứng minh hiệu quả của các biện pháp tôi đã áp dụng trong báo cáo. Trong 3 nội dung thì nội dung 1 và 2 đạt kết quả là trên 90%; Nội dung 3 đạt tỷ lệ 57% thì sau khi thực nghiệm kết quả đã phát triển tốt hơn trước là 90%. PHẦN D. CAM KẾT Tôi xin cam kết không sao chép hoặc vi phạm bản quyền; không sử dụng biện pháp đã được đề xuất để xét duyệt thành tích khen thưởng cá nhân trước đó; các biện pháp đã triển khai thực hiện và minh chứng về kết quả, sự tiến bộ của trẻ em là trung thực.
File đính kèm:
skkn_nang_cao_chat_luong_to_chuc_cac_tro_choi_van_dong_cho_t.doc